09:36:07 | 25/5/2012
Thách thức trong ngắn hạn về mặt chính sách của Việt Nam là sự duy trì ổn định kinh tế và khôi phục lại niềm tin của các nhà đầu tư, đồng thời phải giải quyết các vấn đề tái cơ cấu dài hạn trong các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Đó là những chia sẻ của ông Deepak Mishra, chuyên gia kinh tế trưởng của World Bank tại Việt Nam trong buổi họp báo công bố Báo cáo Cập nhật tình hình kinh tế trong khu vực và Việt Nam ngày 23/5/2012, tại Hà Nội. Anh Phương thực hiện.
Ở thời điểm hiện tại, Ngân hàng thế giới nhìn nhận nền kinh tế Việt Nam ra sao, thưa ông?
Có thể nói sau một thời gian dài trong bất ổn, nền kinh tế Việt Nam đang dần bước vào chu kỳ ổn định kinh tế vĩ mô. Dự báo kinh tế Việt Nam sẽ có mức tăng trưởng GDP đạt mức 5,7% và chỉ số lạm phát sẽ được khống chế dưới 10% trong năm 2012.

Bên cạnh đó, WB cũng nhận thấy từ năm 2007 đến năm 2010, một số điều chỉnh đã được tiến hành sau một loạt các cú sốc bao gồm cả tăng đột biến trong các dòng vốn vào, dẫn đến rủi ro nền kinh tế cao hơn thể hiện ở tỉ lệ lạm phát cao, dự trữ giảm, gia tăng thâm hụt ngân sách trong và ngoài nước và các điểm yếu trong lĩnh vực ngân hàng và doanh nghiệp. Ở thời điểm đó, niềm tin vào nền kinh tế Việt Nam đã bị giảm sút. Tuy nhiên, tình hình đã bắt đầu đảo ngược sau khi Chính phủ Việt Nam đã mạnh tay thông qua Nghị quyết 11, thay đổi toàn diện toàn bộ bộ mặt nền kinh tế phát triển theo hướng bền vững hiệu quả hơn.
Theo ông, các biện pháp thắt chặt trong chính sách tài khóa – tiền tệ có phải là nguyên nhân làm giảm mức độ tăng trưởng GDP trong năm nay ?
Thực tế, trong khi nền kinh tế Việt Nam bắt đầu đi vào ổn định, việc thắt chặt đáng kể các chính sách kinh tế vĩ mô cộng với thực trạng môi trường kinh tế toàn cầu không chắc chắn đã gây ra những ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế Việt Nam. Theo đó, tăng trưởng GDP đã giảm từ 6,8% năm 2010 xuống còn 5,9% năm 2011 và tiếp tục giảm xuống 4,0% trong Quý 1 năm 2012. Từ đó, kéo theo tổng cầu trong nước chững lại, ảnh hưởng trực tiếp đến ngành xây dựng, dịch vụ và các ngành khác. Ngoài ra, việc thắt chắt các chính sách này cũng là nguyên nhân làm nản lòng các nhà đầu tư (đặc biệt trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng và bất động sản) và tiêu dùng tư nhân. Mặc dù phải chụi hi sinh mức độ tăng trưởng GDP, song đây vẫn chưa phải lúc để Chính phủ Việt Nam thực hiện các chính sách nới lỏng. Bên cạnh đó, Chính phủ phải tăng được mức độ tín nhiệm trong quản lý thị trường tài chính. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn cung, hầu hết các nền kinh tế không riêng Việt Nam cũng đang phải lựa chọn giữa hai mục tiêu giữa tăng trưởng và ổn định .
Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam vẫn có những điểm sáng, đặc biệt trong xuất khẩu, ông thấy gì ở những lĩnh vực này ?
Theo tính toán, mức thâm hụt tài khoản hiện tại được ước tính đã giảm 0,5% GDP trong năm 2011 từ mức 4,1% trong năm 2010. Có được số liệu khả quan trên chính là do nền kinh tế Việt Nam có sự hồi phục xuất khẩu trên diện rộng. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu năm 2011 tăng vọt lên 34,2% trong năm 2011 và tiếp tục tăng trong quý 1 năm 2012 là 23,6% cao hơn so với cùng kỳ năm ngoái. Kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng chủ lực của Việt Nam như may mặc, giày dép, và đồ nội thất vẫn tiếp tục tăng trưởng ở mức 14-18% trong ba tháng đầu năm này.
Ngoài ra, Việt Nam vẫn được nhìn nhận là quốc gia có cơ cấu dân số trẻ và năng động. Với mức cung cấp ra thị trường mỗi năm tới 2 triệu lao động. Đây sẽ là một giải pháp tốt cho sự phục hồi sức khỏe nền kinh tế khi Chính phủ có các giải pháp đào tạo và sử dụng tốt nguồn nhân lực đó. Nhưng đó cũng là thách thức không nhỏ cho nền kinh tế nếu lực lượng lao động này không được phân bổ sử dụng hợp lý.
WB nhìn nhận thế nào về vấn đề nợ công của Việt Nam trong thời gian qua, thưa ông ?
Theo đánh giá của WB, nợ công của Việt Nam có khả năng duy trì tính bền vững nếu đà phục hồi kinh tế vẫn tiếp tục và các cơ quan chức năng vẫn theo đuổi con đường củng cố tài chính như hiện nay. Phân tích tính bền vững nợ tại các quốc gia có thu nhập thấp của WB cho thấy Việt Nam vẫn thuộc nhóm nguy cơ thấp trước tình hình nợ nước ngoài. Sự không chắc chắn lớn nhất đối với tính bền vững nợ xuất phát từ các doanh nghiệp nhà nước, những khoản nợ của doanh nghiệp loại này không được liệt kê trong các con số thông kê nợ của Chính phủ hay nợ được Chính phủ bảo lãnh. Chính điều đó làm hạn chế khả năng của Chính phủ trong quản lý rủi ro liên quan. Ngoài ra, tính minh bạch và trách nhiệm công bố thông tin là rất quan trọng để xây dựng lòng tin giữa các thành viên tham gia thị trường.
Việt Nam cũng đang đẩy nhanh các cải cách trong lĩnh vực ngân hàng. Đó có phải là một giải pháp cho nền kinh tế của Việt Nam, thưa ông ?
Theo WB, những vấn đề chưa được giải quyết trong lĩnh vực ngân hàng có khả năng vẫn là mối quan tâm cho Việt Nam trong những năm tới. Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước đã tăng cường nỗ lực giám sát và tăng yêu cầu vốn tối thiểu để đáp ứng mối quan tâm về năng lực của ngành ngân hàng. Đơn cử với Quyết định 254 được Thủ tướng Chính phủ ban hành vào ngày 1/3 về: “Tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng giai đoạn 20111-2015” đây sẽ là cú hích lớn đối với ngành ngân hàng, đặt ra một số lựa chọn trong chuyển dịch cơ cấu bao gồm cả việc cho phép ngân hàng nhà nước trực tiếp mua cổ phần của ngân hàng yếu kém, hoặc tăng giới hạn quyền sở hữu đối với ngân hàng nước ngoài trong các tổ chức tín dụng trong nước, khuyến khích ngân hàng mạnh mua lại tài sản có chất lượng tốt, mua lại các khoản vay từ các ngân hàng yếu kém cũng như cho phép các ngân hàng bán các khoản nợ khó đòi cho Công ty kinh doanh Nợ và Tài sản.
Tuy nhiên, những cải cách trong lĩnh vực ngân hàng là chưa đủ Chính phủ Việt Nam cũng cần đẩy mạnh nỗ lực để tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước, quản lý đầu tư công, và lĩnh vực tài chính. Ngoài ra, ngay cả khi thực hiện thành công một phần của các cải cách về cơ cấu. Việt Nam vẫn cần phải trở lại với môi trường kinh tế vĩ mô bễn vững hơn, đồng thời đặt nền móng cho hiệu quả và năng suất cao hơn để thúc đẩy tăng trưởng trong trung và dài hạn./.