15:09:51 | 6/1/2026
Năm 2025, kinh tế Việt Nam lập dấu mốc lịch sử khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ước đạt 920 tỷ USD. Thành tựu này khẳng định sức bật của nền kinh tế mở, đồng thời tạo nền tảng để Việt Nam tự tin chuyển từ mở rộng quy mô sang nâng cao chiều sâu giá trị.
Những con số ấn tượng
Theo Cục Hải quan, cả xuất khẩu và nhập khẩu đều tăng trưởng hai con số: xuất khẩu đạt khoảng 470,59 tỷ USD (tăng 15,9%), nhập khẩu đạt 449,41 tỷ USD (tăng 18%) – mức cao nhất từ trước tới nay, phản ánh dòng chảy hàng hóa thông suốt và vị thế ngày càng vững chắc của Việt Nam trong thương mại toàn cầu.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Phan Thị Thắng cho biết, động lực xuất khẩu đến từ sự tăng trưởng đồng đều của nhiều nhóm hàng chủ lực, đặc biệt là công nghiệp điện tử, máy tính, linh kiện và sự phục hồi rõ nét của nông, lâm, thủy sản (rau quả, sầu riêng, tôm hùm...). Dệt may, gỗ và sản phẩm gỗ cũng ghi nhận mức tăng tích cực, phản ánh sự cải thiện của nhu cầu toàn cầu và khả năng nắm bắt cơ hội thị trường của DN Việt.
TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam nhận định kỷ lục về xuất khẩu được hỗ trợ bởi sự phục hồi của các thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, nhờ các biện pháp phục hồi kinh tế và chính sách tiền tệ nới lỏng. Cao điểm mua sắm những tháng cuối năm kéo theo sức mua mạnh với các nhóm hàng Việt Nam có thế mạnh như dệt may, da giày, nội thất, điện tử, thực phẩm và nông, lâm sản.
Theo ông Nguyễn Bích Lâm, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, tính đến năm 2025, cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam đã thặng dư liên tiếp trong 10 năm. Tuy nhiên, giai đoạn 2023–2025 cho thấy tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng nhanh, nhưng xuất siêu giảm dần: từ 4,12% năm 2023 xuống 3,17% năm 2024 và 2,3% năm 2025. Ông Lâm nhận định, điều này phản ánh tốc độ tăng trưởng thương mại quốc tế đang vượt khả năng tích lũy giá trị ròng của nền kinh tế, khiến đóng góp của xuất nhập khẩu vào quy mô và tốc độ tăng GDP giảm dần trong ba năm qua.
Khu vực FDI tiếp tục là trụ cột với kim ngạch dự kiến 663 tỷ USD, chiếm 72% tổng kim ngạch. Theo ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, xuất khẩu vẫn phụ thuộc nhiều vào FDI, trong khi doanh nghiệp trong nước chưa tham gia sâu vào các khâu giá trị cao, còn phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu, năng lực thiết kế, marketing và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn xanh vẫn hạn chế, khiến sản xuất và xuất khẩu dễ tổn thương.
Hiện Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất, chiếm 32,3% tỷ trọng, trong khi Trung Quốc dẫn đầu nhập khẩu với khoảng 40%. Thực tế này cho thấy rủi ro phụ thuộc vào hai thị trường truyền thống. Bên cạnh đó, doanh nghiệp FDI chiếm 70–75% kim ngạch xuất khẩu, nhưng giá trị gia tăng tại Việt Nam vẫn thấp, chủ yếu ở khâu lắp ráp, trong khi các khâu giá trị cao như thương hiệu, tiếp thị và chuỗi cung ứng chưa hoàn thiện. Cán cân thương mại cũng mất cân đối với xuất siêu sang Mỹ và nhập siêu từ Trung Quốc.
“Chìa khóa” phát triển thương mại bền vững
Bộ Công Thương xác định mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu năm 2026 trên 8%, tập trung vào chiến lược xuất khẩu gắn chặt với xanh hóa và số hóa. Để thoát khỏi “bẫy gia công, thu bạc lẻ”, các chuyên gia thống nhất rằng tương lai thương mại sẽ dựa trên ba trụ cột: Kinh tế Xanh – Kinh tế Số – Kinh tế Tri thức.
Yếu tố then chốt quyết định tính bền vững của mốc 920 tỷ USD năm 2025 nằm ở năng lực công nghiệp hỗ trợ; để xuất khẩu bền vững, doanh nghiệp Việt cần từng bước tự chủ nguồn cung đầu vào. PGS.TS Nguyễn Thường Lạng (Đại học Kinh tế Quốc dân) đánh giá, động lực tăng trưởng xuất khẩu và thu hút FDI đến từ nhiều yếu tố: cải cách trong nước về môi trường đầu tư, thủ tục pháp lý, chính sách ưu đãi; các FTA và quan hệ ngoại giao ổn định; chi phí lao động cạnh tranh và đồng Việt Nam giảm giá tương đối, giúp sản phẩm Việt Nam hấp dẫn trên thị trường quốc tế. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài chọn Việt Nam làm điểm đến lâu dài, tận dụng vị trí sản xuất ổn định để mở rộng và chuyển giao dự án khi kinh tế bùng nổ.
Về việc khu vực FDI vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu, khiến giá trị gia tăng giữ lại trong nước còn hạn chế, phần lớn lợi nhuận thuộc về các tập đoàn mẹ, trong khi Việt Nam hưởng lợi chủ yếu từ tiền lương, thuế và hạ tầng, PGS.TS Lạng cho rằng Việt Nam cần khuyến khích doanh nghiệp nội tham gia sâu hơn vào các dự án FDI, dưới hình thức góp vốn, liên doanh hoặc cổ phần hóa, nhằm học hỏi công nghệ, kỹ năng quản trị và kinh nghiệm thị trường quốc tế.
Theo ông Trần Thanh Hải, tối ưu hóa logistics, thúc đẩy thương mại điện tử xuyên biên giới và ứng dụng công nghệ số là điều kiện tiên quyết để thâm nhập thị trường khó tính. Minh bạch thông tin qua Blockchain, mã số định danh, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn xanh trở thành “hộ chiếu” cho hàng Việt vào Mỹ và châu Âu.
Theo ông Nguyễn Bích Lâm, để tái cấu trúc thương mại hàng hóa quốc tế, cần 6 giải pháp trọng tâm: Đổi mới chỉ tiêu đánh giá, chuyển trọng tâm từ tăng kim ngạch sang nâng cao giá trị gia tăng, hiệu quả và bền vững, bổ sung thước đo kinh tế xanh, số và tri thức; Phát triển khu vực kinh tế trong nước, thúc đẩy doanh nghiệp tham gia sâu vào chuỗi giá trị qua chuyển đổi xanh, số hóa và nâng cao hàm lượng tri thức; Đẩy mạnh công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp nền tảng, giảm phụ thuộc nhập khẩu và hình thành cụm liên kết sản xuất xanh - quản trị số - đổi mới công nghệ; Ưu tiên ngành xuất khẩu dựa trên tri thức, R&D, thương hiệu, sở hữu trí tuệ và tiêu chuẩn quốc tế: Hiện đại hóa hạ tầng thương mại, logistics và chuỗi cung ứng theo hướng xanh - số để giảm chi phí và tăng tính minh bạch: Chủ động thích ứng luật chơi mới, lồng ghép kinh tế xanh, số và tri thức vào chiến lược FTA và mở rộng thị trường.
Hương Ly (Vietnam Business Forum)