12:17:04 | 2/2/2026
Thế giới đang tiến dần đến kỷ nguyên đa cực mới với nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Nền kinh tế toàn cầu một lần nữa chứng tỏ khả năng phục hồi vượt trội so với dự kiến, bất chấp những bất ổn kinh tế và biến động địa chính trị. Tuy nhiên, tăng trưởng và phúc lợi sẽ phụ thuộc vào cách thức quản trị của quốc gia. Với Việt Nam, quy hoạch quốc gia cần được xây dựng trên nền tảng một mô hình quản trị với 5 nguồn lực cơ bản: tự nhiên, tài chính, con người, xã hội và sản phẩm, như hình ảnh ngôi sao vàng năm cánh, nhằm hướng tới tăng trưởng xanh và sự thịnh vượng bền vững.
Việt Nam bước vào mùa Xuân năm Bính Ngọ 2026 với hành trang khá tích cực. Quy mô GDP và kim ngạch xuất nhập khẩu (XNK) không ngừng tăng lên. Năm 2025, GDP đạt trên 510 tỷ USD, xếp thứ 32 thế giới và thứ 4 trong khu vực ASEAN. Kim ngạch XNK xếp thứ 20 thế giới với thặng dư thương mại liên tục ở mức cao,... Hơn nữa, Đại hội XIV của Đảng với phương châm: “Phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân…” và 3 đột phá chiến lược, đất nước cũng đang hướng tới đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại.
Tuy nhiên, theo các nhà chiến lược, với đặc thù của một quốc gia đang phát triển, để góp phần thúc đẩy tiến trình đổi mới đất nước trong thời kỳ mới, Việt Nam cần tập trung vào 3 lĩnh vực then chốt cơ bản:
Thứ nhất, quy hoạch, định hướng tầm nhìn và xác định nguồn lực: quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội - môi trường phải là nền tảng liên kết các nguồn lực, tạo sự công bằng, minh bạch và là cơ sở để phát huy sức mạnh tổng hợp. Quy hoạch bao gồm các chỉ tiêu vĩ mô và mục tiêu tăng trưởng chủ yếu sẽ là kim chỉ nam cho việc huy động hiệu quả các nguồn lực, tạo đột phá, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển quốc gia. Tuy nhiên, quy hoạch quốc gia cần được xây dựng, phát triển dựa trên mô hình quản trị định lượng 5 nguồn lực cơ bản theo triết lý “Ngũ hành” - tượng trưng như ngôi sao vàng năm cánh nhằm hướng tới phát triển xanh, các giá trị bền vững thông qua cân bằng và tích lũy năm loại vốn: tự nhiên, tài chính, con người, xã hội, sản phẩm để đạt được sự thịnh vượng lâu dài.
Thứ hai, quản trị bền vững các nguồn lực: Quản trị tốt sẽ đảm bảo sự tiếp cận công bằng, quản lý có trách nhiệm và lợi ích chung, cho phép tất cả các nguồn vốn phát triển mạnh mẽ để tạo ra sự thịnh vượng lâu dài, chứ không chỉ lợi ích ngắn hạn. Các nhiệm vụ, đề án, dự án, công trình quan trọng cũng như kế hoạch, chiến lược trong quy hoạch phát triển kinh tế của đất nước cần phải được tích hợp với nền tảng quản trị bền vững bao gồm các hệ thống, quy trình quản lý để xác định, phát triển và kiểm tra 5 nguồn lực quốc gia nhằm đạt các chỉ số vĩ mô và tăng trưởng GDP của nền kinh tế:
Nguồn lực tài chính: về bản chất, quản trị vốn tài chính về cơ bản là xác định giá trị (giá cả) của các nguồn lực để phân tích nguồn lực thực tế quốc gia nhằm tạo ra dòng tiền, nguồn vốn có sức thanh khoản cao và phân bổ giải ngân công khai, minh bạch và toàn diện để thúc đẩy hoạt động và tăng trưởng kinh tế. Ngân hàng Nhà nước cần có chính sách lãi suất tốt, cũng như doanh nghiệp nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo, dẫn dắt kinh tế - xã hội, cần tiên phong hơn nữa trong việc hỗ trợ cho toàn bộ hệ thống doanh nghiệp tư nhân để giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng, hiệu quả các sản phẩm, dịch vụ thiết yếu nhằm góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Hơn nữa, do đặc thù đất đai thuộc sở hữu toàn dân nên cần có phương pháp định giá thực tế và chính sách thuế phù hợp để người dân có thể tiếp cận nguồn lực này một cách bình đẳng và thu hẹp khoảng cách giàu nghèo.
Cần thúc đẩy quốc tế hóa đồng tiền thông qua các chính sách tài khóa và tiền tệ phù hợp, phát triển các trung tâm tài chính quốc tế tại TP.Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, thu hút FDI và dịch chuyển thương mại sang thanh toán bằng VND, đồng thời tận dụng các hiệp định thương mại tự do để mở rộng phạm vi sử dụng tiền tệ quốc gia, biến VND thành công cụ cất trữ, trao đổi và hạch toán có giá trị trên thị trường quốc tế
Nguồn lực tài nguyên: các nguồn tài nguyên cơ bản như đất, khoáng sản, cây xanh, rừng, sông hồ, biển, không gian (bao gồm cả không gian ngầm) cần phải được xác định và đánh giá một cách công khai, minh bạch thường xuyên, nhằm đảm bảo khai thác, sử dụng công bằng, hợp lý, được tích luỹ và không bị cạn kiệt. Việt Nam với lợi thế có 21/34 tỉnh, thành giáp với biển, cần phát triển mạnh mẽ chiến lược hướng ra Biển Đông nhằm phát triển kinh tế biển và bảo vệ an ninh quốc phòng.
Tuy nhiên, tình hình thiên tai và biến đổi khí hậu ven biển phức tạp, xảy ra hàng năm ở nước ta đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nguồn lực tài nguyên. Chính vì vậy, bên cạnh các sản phẩm “cứng” (vật lý), cần chú trọng triển khai các sản phẩm “mềm” trong quản lý rủi ro bằng cách kiểm soát cách con người và tài sản tương tác với các khu vực dễ bị thiên tai. Các sản phẩm “mềm” như văn kiện, quy hoạch cũng như chiến lược, kế hoạch của Đảng, Chính phủ,… theo truyền thống chỉ có tiêu đề 2 trụ cột “kinh tế” và “xã hội”, nên chăng bổ sung thêm trụ cột “môi trường” để đảm bảo toàn xã hội cùng hướng tới 3 trụ cột chính của sự phát triển bền vững.
Nguồn lực con người: Việt Nam là quốc gia đông dân đang phát triển nên tập trung mục tiêu kép tăng trưởng GDP và việc làm, bởi vì GDP cao dựa nhiều vào các ngành thâm dụng vốn sẽ không đảm bảo việc làm, dẫn đến “tăng trưởng không tạo việc làm” và điều này làm trầm trọng thêm bất bình đẳng, thất nghiệp và vòng lặp nghèo đói dẫn đến bất ổn xã hội. Do vậy, cần tập trung vào tăng trưởng tạo nhiều việc làm và đảm bảo tốt điều kiện lao động (lương, môi trường, nơi ở, đi lại, chữa bệnh, bảo hiểm xã hội,...), kết hợp với các chính sách toàn diện để đảm bảo rằng sự mở rộng kinh tế mang lại lợi ích cho lực lượng lao động đông đảo, thúc đẩy bình đẳng giới, ổn định xã hội, giảm nghèo và phát triển bền vững, tạo ra một vòng tuần hoàn tích cực của năng suất và hạnh phúc.
Ngoài ra, trong thời đại công nghệ số, chúng ta cũng đang thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao. Do vậy cần có những chính sách chủ động đào tạo, phát triển nhân lực trong các lĩnh vực kiến thức kỹ thuật số và kỹ năng công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), phân tích dữ liệu, lập trình, an ninh mạng.
Nguồn lực xã hội: tiếp tục cải cách luật pháp, thúc đẩy xây dựng nhà nước pháp quyền với chính quyền địa phương hai cấp đồng thời tạo ra khuôn khổ cho các lĩnh vực mới như chính phủ điện tử, công nghệ số và năng lượng xanh…, loại bỏ các trở ngại, lợi ích nhóm và đảm bảo luật pháp có tầm nhìn xa, minh bạch và công bằng đối với người dân và nền kinh tế, biến sức mạnh thể chế trở thành động lực cốt lõi và đột phá cho tăng trưởng.
Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường minh bạch, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh giữa các khu vực kinh tế nhà nước, tư nhân và FDI nhằm từng bước cân bằng nhu cầu trong nước (lưu thông nội địa) với thương mại quốc tế (lưu thông bên ngoài) theo hướng “lưu thông kép” (dual circulation), Trong quá trình đó, tăng cường các vòng tuần hoàn kinh tế nội địa để tăng cường khả năng cạnh tranh quốc gia, đồng thời tận dụng thị trường toàn cầu để thúc đẩy tăng trưởng giá trị cao
Trong nền kinh tế thị trường, thị trường nhân tố (factor market) là nơi cung cấp các yếu tố đầu vào (đất đai, lao động, vốn, nguyên vật liệu) làm nền tảng cho sản xuất và đóng vai trò xương sống cấu trúc cho sự phát triển kinh tế, vượt ra ngoài phạm vi thị trường sản phẩm. Chính vì vậy, cần có một cơ quan chính phủ chuyên nghiên nghiên cứu và phát triển thị trường các yếu tố đầu vào này, đặc biệt là vấn đề đào tạo, tuyển dụng lao động, tiền lương, giá đất…, trong bối cảnh lực lượng lao động cũng đang quốc tế hoá.
Đối với thể chế công quyền, cần từng bước tinh giản và nâng cao hiệu quả hơn nữa bộ máy hành chính Trung ương và địa phương theo hướng tập trung vào quản trị các nguồn lực cơ bản, phát triển đội ngũ lãnh đạo có tầm nhìn, có khả năng huy động các nguồn lực cũng như có phẩm chất quyết đoán và có văn hóa, đạo đức.
Nguồn lực sản phẩm: cơ sở hạ tầng là cốt lõi của nguồn lực sản phẩm bao gồm các tài sản vật chất do con người sản xuất ra như công trình, nhà cửa, đường sá, máy móc và hệ thống công nghệ,… tạo thành nền tảng thiết yếu cho hoạt động kinh tế. Về thực chất, các sản phẩm đầu vào này cùng với vốn tài chính, tài nguyên, con người chuyển đổi thành sản phẩm, dịch vụ đầu ra một cách hiệu quả trong việc tạo giá trị gia tăng, đặc biệt là hỗ trợ, phát triển các chức năng xã hội và tổ chức của nguồn lực xã hội.
Ở cấp độ quốc gia, cần tập trung ưu tiên ngành nông nghiệp để đảm bảo an ninh lương thực thông qua việc đầu tư hạ tầng công nghệ cho nông nghiệp thông minh, ứng dụng IoT, AI, Big Data để quản lý nguồn nước, giúp vận hành hệ thống thủy lợi hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên và tăng năng suất. Phát triển nông nghiệp xanh, bền vững (hữu cơ, sinh thái, bảo vệ môi trường), và chuyển đổi số (quản lý từ xa, truy xuất nguồn gốc). Hơn nữa, bên cạnh năng lượng truyền thống, cần thúc đẩy ngành năng lượng chuyển đổi xanh, giảm phát thải (năng lượng tái tạo, hạt nhân). Cần chú trọng phát triển hệ thống giao thông và logistics đường sắt, đường bộ cao tốc, đường thủy, đường hàng không kết nối giao thông các địa phương và quốc tế.
Các địa phương đầu tàu kinh tế của cả nước như Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh cần phát triển mạnh mẽ hạ tầng giao thông công cộng, chống tắc nghẽn giao thông cũng như các hệ thống cấp thoát nước và xử lý môi trường nhằm nâng cao chất lượng sống đô thị.
Đặc biệt, cần hiện đại hóa các ngành công nghiệp quan trọng của đất nước, xây dựng hạ tầng cho ngành công nghiệp số như internet tốc độ cao và mạng lưới mạnh mẽ (IoT), nền tảng đám mây & dữ liệu, AI và an ninh mạng,…
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển cơ sở hạ tầng để phát triển các ngành công nghiệp then chốt, cần lưu ý phát triển chiến lược ngành công nghiệp lưỡng dụng để đảm bảo an ninh quốc phòng.
Thứ ba, hợp tác quốc tế: trong bối cảnh ngày càng hội nhập sâu rộng của nền kinh tế, phẩm chất lãnh đạo liên quan đến ngoại giao và quan hệ quốc tế ngày càng trở nên quan trọng. Các nhà lãnh đạo phải tham gia vào hoạt động ngoại giao hiệu quả, bởi cả đối tác và đối thủ cạnh tranh đều đóng vai trò quan trọng. Đối thủ cạnh tranh thúc đẩy sự đổi mới, hiệu quả và tự hoàn thiện thông qua áp lực và các tiêu chuẩn của thị trường phát triển, trong khi đối tác cung cấp các nguồn lực chung, khả năng tiếp cận thị trường rộng hơn, tiết kiệm chi phí và sức mạnh hợp tác chuỗi cung ứng để giải quyết những thách thức lớn, mở rộng thị trường và tạo ra những cơ hội mới mà không bên nào có thể đạt được một mình, từ đó thúc đẩy tăng trưởng. Trong quá trình đó, cần xây dựng mối quan hệ bền chặt với các quốc gia khác (đặc biệt là các nước láng giềng trong khu vực ASEAN, các nước Đông Bắc Á cũng như các nước có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện). Song song đó tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế nhằm bảo vệ lợi ích kinh tế và an ninh quốc gia. Các hoạt động này bao gồm thu hút đầu tư nước ngoài, tiếp cận công nghệ tiên tiến, thúc đẩy thương mại và hợp tác quốc tế vì sự phát triển bền vững. Chúng ta cũng cần nâng cao kỹ năng đàm phán quốc tế trong bối cảnh chính sách thuế quan đối ứng làm đảo lộn các thiết chế thương mại đa phương, tác động mạnh tới chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu.
Triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả ba lĩnh vực then chốt cơ bản trên vào đúng dịp năm mới Bính Ngọ với biểu tượng của sự nhanh nhẹn, tràn đầy năng lượng, chắc chắn đó sẽ là chỉ dấu của một năm “Mã đáo thành công”. Điều này sẽ mở ra kỷ nguyên mới, tạo ra những nguồn mã lực mạnh mẽ, góp phần thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm giai đoạn 2026 - 2030, hướng tới tầm nhìn quốc gia đến năm 2050, đem lại sự phát triển bền vững và từng bước nâng cao đời sống người dân.
TS. Đoàn Duy Khương
Nguồn: Vietnam Business Forum