Việt Nam tăng trưởng đáng khích lệ

17:00:47 | 12/4/2010

Đó là nhận định mà Báo cáo cập nhật tình hình kinh tế Đông Á - Thái Bình Dương, do WB công bố ngày 7/4 tại Hà Nội, đã đánh giá. Theo báo cáo này, Việt Nam đã thoát ra khỏi suy thoái với vị thế tốt hơn nhiều so với các nước trong khu vực, tuy nhiên vẫn còn tồn tại những rủi ro vĩ mô như tái lạm phát, căng thẳng ngoại tệ…

Năm 2010 là “năm tốt lành”

Ông Martin Rama, Chuyên gia kinh tế trưởng của WB tại Việt Nam đánh giá, những ứng phó kịp thời của Chính phủ về chính sách tài khóa và tiền tệ… đã mang lại kết quả rất tốt.

Theo báo cáo, Việt Nam đã chống chọi với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tốt hơn so với dự kiến. GDP thực tế đã tăng 5,3% so với năm 2009, nhờ các ngành xây dựng tăng cao do chương trình kích cầu tương đối lớn của chính phủ trong khoảng cuối 2008 đến giữa 2009. Thâm hụt ngân sách lớn, tăng trưởng tín dụng nhanh chóng cộng với việc tạo an tâm cho các doanh nghiệp nhà nước đã khiến cho tổng đầu tư tăng gấp đôi năm 2009, đẩy tỉ lệ đầu tư trên GDP lên tới 42,8%. Khu vực nhà nước chiếm khoảng một phần ba trong tổng số đầu tư này. Sự phục hồi kinh tế cũng đã được củng cố trong những tháng gần đây, với GDP thực tăng 6,9% trong quý cuối năm 2009 so với cùng kỳ năm trước, và khoảng 6% vào quý đầu năm 2010 cũng là đáng khích lệ.

"Việc dựa vào cầu nội địa để hỗ trợ cho hoạt động kinh tế đã gây nên những áp lực cho cán cân thanh toán. Xét về căn bản thì cân bằng đối ngoại của Việt Nam là bền vững. Xuất khẩu đã giảm 9,7% năm 2009, và đây là lần giảm đầu tiên kể từ khi thực hiện cải cách 20 năm trước. Nhập khẩu giảm 14,7%, giúp cho thâm hụt tài khoản vãng lai giảm xuống còn 7,8% GDP, so với 11,9% năm 2008. Các luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước tính đã giảm khoảng 13%, mức giảm không đáng kể trong một năm đầy sóng gió. Năm 2009, thặng dư tài khoản vốn hầu như đã bù đắp được cho thâm hụt trong tài khoản vãng lai”, báo cáo nhận định.

Trong khi đó, lạm phát có dấu hiệu tăng trở lại. Giá cả tăng trung bình 6,5% trong năm 2009, so với mức 19,9% năm 2008. Tuy nhiên, nếu so sánh giá cả của từng tháng thì sẽ thấy lạm phát bắt đầu tăng trở lại trong quý cuối cùng của năm 2009. Vì những tháng ngay trước và sau Tết Nguyên đán có tính chu kỳ nên cũng khó có thể tách biệt xu thế lên giá này. Tuy vậy, giá nguyên liệu quốc tế tăng cao, việc phá giá tiền đồng, và việc điều chỉnh giá năng lượng để phù hợp hơn với mức giá thế giới đều là những nhân tố làm cho tỉ lệ lạm phát cao hơn. Áp lực lạm phát có thể thấy rõ hơn trên thị trường, với chỉ số chứng khoán có xu thế đi lên trong nhiều tháng liên tục, và giá đất cũng tăng cao. Những biến động này cho thấy rằng chính sách tài khóa và tiền tệ mở rộng của chính phủ kể từ năm 2008 đã sắp đi tới giới hạn. Với nền kinh tế toàn cầu đang phục hồi tốt hơn nhiều so với năm 2009, sắp đến lúc Việt Nam cần rút dần các biện pháp kích thích kinh tế của mình.

Theo ông M.Rama, năm 2010 là năm tốt lành đối với Việt Nam. Mặc dù để đạt được chỉ tiêu kiềm chế lạm phát không phải dễ dàng, nhưng Việt Nam có thể đạt được tốc độ tăng trưởng 6,5% là hoàn toàn khả thi.

Đặc biệt, theo đánh giá của các chuyên gia WB, Việt Nam là địa điểm tốt để đầu tư và bằng nhiều cách khác nhau. Ông M.Rama cho biết, hiện nay có khoảng 5.000 tỷ USD có thể được đổ vào các nền kinh tế, nhưng có rất nhiều khoản tiền không thanh khoản, đang nằm trong các tài khoản ngân hàng để chờ đón cơ hội đầu tư. “Sự ổn định chính là cách để thuyết phục các quốc gia khác rằng Việt Nam là điểm thu hút đầu tư tốt. Có thể nửa đầu năm nay chưa tốt lắm, nhưng nửa cuối năm sẽ khả quan hơn”, ông M.Rama nói.

Tuy nhiên, Việt Nam còn rất nhiều áp lực trong việc điều hành nền kinh tế, trong đó, việc dựa vào cầu nội địa để hỗ trợ cho hoạt động kinh tế trong năm 2009 đã gây ra áp lực lên thâm hụt cán cân thanh toán. Theo báo cáo, những hạng mục sai số lớn một cách không bình thường trong cán cân thanh toán (chiếm 10% GDP), và hiện tượng mua bán USD vượt ra ngoài biên độ chính thức trên thị trường tự do đã cho thấy một số dấu hiệu có sự mất lòng tin vào đồng nội tệ. Nguyên nhân chính, theo ông M.Rama là do các hộ gia đình, doanh nghiệp găm giữ với mong muốn bảo toàn giá trị tài sản (giá trị lên đến hàng tỷ USD).

Mặt khác, áp lực lạm phát có dấu hiệu tăng trở lại trong khoảng cuối năm 2009. Cùng với đó, việc hạ lãi suất xuống quá thấp cũng làm cho các đợt phát hành trái phiếu chính phủ trở nên kém hấp dẫn. Mặc dù tốc độ giải ngân ODA được đẩy nhanh đáng kể và việc rút bớt các khoản tiền gửi chính phủ tại các ngân hàng thương mại, song việc bù đắp thâm hụt ngân sách vẫn ngày càng trở nên khó khăn hơn. Việc tái cân bằng chính sách này đã được tiến hành tốt cho đến năm 2010, và có lẽ sẽ còn được duy trì trong những tháng tới. Tốc độ tái cân bằng này sẽ phụ thuộc chủ yếu vào việc đánh giá tình hình hiện tại. Chính phủ không muốn nâng lãi suất cơ bản, nhưng định hướng chính sách có lợi cho tăng trưởng có thể sẽ bị chậm lại nếu như các số liệu mới thu thập được về tiêu dùng và giá cả cho thấy rõ rằng lạm phát đã quay lại và tình hình sẽ trở nên bất ổn hơn trong những tháng tiếp theo…

Nhiều tín hiệu vui cho Khu vực Đông Á-Thái Bình Dương

Báo cáo của WB cũng đã nâng mức tăng trưởng các quốc gia đang phát triển trong khu vực Đông Á- Thái Bình Dương năm 2010 là 8,7 % thay vì 7,8 % ước tính vào tháng 11 năm ngoái. Tuy nhiên, báo cáo cũng đưa ra lời khuyên là các nước vẫn phải duy trì các kế hoạch kích thích đưa ra trong thời kỳ khủng hoảng, nhất là những biện pháp giảm thuế. Đối với một số quốc gia thì còn quá sớm để rút các biện pháp này, vì tăng trưởng hiện nay của khu vực vừa dựa vào xuất khẩu nhưng cũng phải dựa vào tiêu thụ trong nước.

Theo WB, khu vực Đông Á – Thái Bình Dương có thể phát triển nhanh chóng trong một thập niên nữa, nhưng với điều kiện là các quốc gia châu Á phải thực hiện những cải tổ cần thiết về cơ cấu kinh tế. Đối với Trung Quốc, điều này có nghiã là phải giảm bớt lệ thuộc vào xuất khẩu, phải nâng mức tiêu thụ trong nước và phát triển lĩnh vực dịch vụ. Đối với những nước có thu nhập trung bình như Việt Nam, Philippinnes, Thái Lan, Indonesia, Malaysia thì phải “nâng cấp” lĩnh vực sản xuất, chế tạo hàng hoá. Những nước nghèo như Campuchia và Lào thì cần phát triển công nghiệp hầu giảm bớt sự lệ thuộc vào nông nghiệp và ngành quặng mỏ.

Đặc biệt, WB cho rằng, các nước trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương cần hợp tác chặt chẽ hơn nữa để thúc đẩy thương mại, giảm chi phí và tăng sức cạnh tranh.

Quỳnh Chi