13:01:03 | 9/1/2013
Mới đây, Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đã công bố nhiều số liệu thống kê quan trọng về tình hình kinh tế xã hội Việt Nam trong năm 2012. Như trường hợp tái xuất siêu sau 19 năm nhập siêu, chỉ số hàng tồn kho, GDP, CPI có nhiều thay đổi,... Phóng viên Tạp chí Vietnam Business Forum đã có cuộc trao đổi với ông Đỗ Thức, Tổng Cục trưởng Tổng cục Thống kê xung quanh các chỉ số này. Anh Phương thực hiện.
Có thể nói năm 2012 là năm nền kinh tế đã chứng kiến khá nhiều những biến chuyển bất thường, có cả những mốc phát triển nhưng cũng có sự lên xuống trồi trụt của một số ngành kinh tế trọng điểm như ngân hàng, bất động sản, đầu tư chứng khoán. Nền kinh tế đã chứng kiến sự phát triển rất nóng của các kênh đầu tư chứng khoán, bất động sản, ngân hàng vào đầu năm nhưng thời gian càng về cuối thì các ngành này càng trở nên ì ạch thậm chí có những biểu hiện đi xuống, thất bát. Tuy nhiên, nhìn toàn diện tổng thể nền kinh tế vẫn giữ được nhịp ổn định để tạo đà cho những bước tăng trưởng trong năm tiếp theo – Ông Đỗ Thức đánh giá.
Ông đánh giá mức tăng GDP của Việt Nam năm vừa qua như thế nào?
Có thể nói không riêng gì Việt Nam mà nhiều quốc gia khác cũng lấy tiêu chí chỉ số GDP để đánh giá sức khỏe cũng như sự phát triển của một nền kinh tế. Riêng chỉ số GDP của Việt Nam trong năm 2012 đã ghi nhận có nhiều thay đổi. Cụ thể, nếu trong 6 tháng cuối năm chúng ta đặt mục tiêu là 5,3 đến 5,7 %; 10 tháng cuối năm là 5,2% và lúc này chúng ta thừa nhận với nhau mức GDP ở 5,03%. Thực chất các định mức GDP này đều thấp hơn mục tiêu của Quốc hội đặt ra. Song điều này cũng chỉ ra trong sự điều hành của Chính phủ đã thể hiện cách nhìn nhận đúng bản chất tăng trưởng của nền kinh tế. Kịp thời điều chỉnh cho sát với thực tế không chạy theo “bệnh thành tích”. Nếu so sánh thì đây không phải là mức tăng trưởng cao so với kế hoạch song đây cũng cũng là con số chấp nhận được. Nếu nhìn nhận kỹ hơn thì mức tăng trưởng này một phần lớn có tác động của các giải pháp quyết liệt của Chính phủ trong việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô như thắt chặt chính sách tiền tệ, giảm chi tiêu công và sức cung cầu của người dân có xu hướng giảm mạnh.
Một khía cạnh khác của con số GDP năm 2012 đó là sự chúng ta phải ghi nhận sự đóng góp rất lớn của hoạt động xuất khẩu dầu thô. Cụ thể, khai thác dầu thô trong năm 2012 đã tăng 9,8%.
Đồng nghĩa với việc đây mặt hàng có giá trị cao, trung bình hàng năm đóng góp tới 30% GDP. Có thể nói, dầu thô chính là sản phẩm giữ nhịp cho tăng trưởng GDP của Việt Nam.
Việt Nam xuất siêu sau 19 năm, đó thực sự là một dấu hiệu tích cực của nền kinh tế, thưa ông?
Số liệu thống kê đã cho thấy, kim ngạch xuất khẩu tháng 12 ước tính đạt 10,4 tỷ USD, tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 15% so với năm 2011. Tính chung cả năm 2012, xuất nhập khẩu hàng hoá đạt 114,6 tỷ USD, tăng 18,3% so với năm 2011. Năm 2012 đã xuất siêu 284 triệu USD và đây cũng là năm đầu tiên ghi nhận Việt Nam xuất siêu hàng hóa kề từ năm 1993, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với mức xuất siêu đạt 12 tỷ USD, tập trung ở nhóm hàng gia công lắp ráp. Ngược lại khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 11,7 tỷ USD. Và dấu ấn xuất khẩu trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã lên ngôi với các mặt hàng như: điện tử, máy tính và linh kiện; điện thoại và các nhóm linh kiện; hàng dệt may, giày dép… Các mặt hàng trên đều thuộc nhóm hàng có tỷ trọng gia công cao, điều này phản ánh hiệu quả xuất khẩu và lượng ngoại tệ thực thu thấp.
Hàng tồn kho trở thành một vấn nạn của nền kinh tế, trong khi lượng tồn kho lớn, nhưng giá cả vẫn ở mức cao khiến việc tiêu thụ khó khăn, ông đánh giá ra sao về diễn biến CPI năm vừa rồi ?
Trong bối cảnh suy giảm chung của nền kinh tế trong nước và quốc tế thì sự suy giảm tăng trưởng của một số ngành kinh tế là điều khó tránh khỏi. Cụ thể như mức hàng tồn kho còn khá cao, nợ xấu của hệ thống ngân hàng chậm được xử lý, cũng như chỉ số CPI có diễn biến thất thường khó dự đoán. Đây thực sự là những thách thức của nền kinh tế của năm mới 2013.
Riêng với chỉ số hàng tồn kho tính tại thời điểm ngày 1/12 của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 20,1% so với cùng kỳ, trong đó những ngành có chỉ số tồn kho tăng cao như: Sản xuất xe có động cơ tăng 76,6%, sản xuất phân bón và hợp chất ni tơ tăng 42,1%, chế biến và bảo quản thủy sản tăng 28,6%... Việc tăng lượng hàng tồn kho trong năm 2012 đã được dự báo trước, nhưng những con số nói trên cho thấy tình hình sản xuất của các doanh nghiệp vẫn chưa được cải thiện và sẽ có chiều hướng xấu hơn vào năm 2013. Nguyên nhân của vấn đề hàng tồn kho một phần do giá cả thị trường liên tiếp tăng trong năm 2012, (chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2012 tăng 9,21% so với năm 2011), mặt khác kinh tế khó khăn và việc thắt chặt chi tiêu đã làm giảm nhu cầu mua sắm của người dân.
Về chỉ số CPI, có thể nói năm 2012 có mức tăng trưởng khá thất thường nghĩa là không tăng vào dịp Tết, không giảm sau Tết và tăng không phải do lương thực, thực phẩm như mọi năm. Tháng 9 là thời điểm bất thường nhất của CPI năm 2012. Theo đó trong tháng này chỉ số CPI tăng tới 2,2% so với tháng trước và ngay lập tức, làm lệch lạc sự suy đoán của giới chuyên gia lo ngại: trước, lo giảm phát; sau, lại lo lạm phát. Tuy nhiên, cuối cùng, CPI của 3 tháng cuối năm đã tăng chậm lại. Tuy nhiên theo tôi, chúng ta đang ở trong bối cảnh một nền kinh tế thị trường thì vấn đề giá cả cũng cần được vận hành theo tiêu chí công bằng của thị trường. Cụ thể như giá xăng, các cơ quan quản lý vẫn bắt người dân phải chụi giá xăng tăng cao nhưng khi giảm lại rất nhỏ giọt. Khi lý giải thì nói là so sánh với giá một số quốc gia trên thế giới thì mức giá đó vẫn còn là thấp. Điều này có phần bất hợp lý vì mỗi quốc gia có một cơ cấu kinh tế khác nhau không thế bắt cán bộ, công chức người dân Việt Nam chụi mức giá như với các quốc gia khác được./.