“60% doanh nghiệp Nhật Bản đang làm ăn có lãi tại Việt Nam”

10:08:58 | 26/2/2013

Đó là thông tin được ông Hirokazu Yamaoka, Trưởng đại diện JETRO tại Hà Nội đưa ra tại cuộc họp báo công bố kết quả cuộc điều tra tình hình hoạt động của doanh nghiệp Nhật Bản tại Châu Á và Châu Đại Dương. Bên lề cuộc họp, phóng viên Tạp chí Vietnam Business Forum đã có cuộc trao đổi với ông Hirokazu Yamaoka để làm rõ thêm suy nghĩ cũng như các dự định đầu tư trong năm 2013 của các doanh nghiệp Nhật Bản. Anh Phương thực hiện.

Xin ông cho biết một số định hướng cơ bản của cuộc điều tra lần này của JETRO?

Vi s hp tác của Vin nghiên cứu chiến lưc (DSI), dựa trên kết quả Điu tra vtình hình hot đng của c doanh nghip Nht Bản ti Châu Á-Châu Đi Dương” ln th 26 của JETRO, chúng i rt vui mng đưc t chức Cuc hp báo công b kết quả điu tra: Tình hình kinh doanh của c doanh nghip Nht Bản ti Vit Nam, tăng cưng thu hút hơn nữa c doanh nghip Nht Bản vào đu tư ti Vit Nam. Cơ s của đề án mà JETRO chia s ln này chính là kết quả điu tra sau khi phân tích tình hình hot đng kinh doanh của hơn 4000 doanh nghip Nht Bản đang hot đng ti Châu Á-Châu Đi Dương, bao gm khong 250 doanh nghip Nhật Bản ti Vit Nam. Tôi ng rng đây sẽ là tiếng nói chân thực của c doanh nghip Nht Bản.

Ngoài ra, năm 2011 và năm 2012 cũng là hai năm ghi kỷ lục mới, cao nht v đu tư của c doanh nghip Nht Bản vào Vit Nam. Tôi ng rng đu tư vào Vit Nam của Nht Bản đang cục din cao, và hin là s bùng n ln th 3. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhận thấy các khía cạnh khác như những dấu hiệu bất ổn của nền kinh tế Việt Nam v môi tng đu tư, s h tng chưa hoàn thin, thiếu ngun nhân lc cũng như k năng trong công vic, v phía Nht Bản có s biến đng ca môi trưng kinh tế thế gii, nên cũng có nhng quan đim cho rng vic tăng cưng hơn nữa đu tư của Nht Bản vào Vit Nam trong năm 2013 là khá khó khăn.

Tôi cũng đồng cảm với quan điểm của Chính phủ Việt Nam rng mức đu tư này chưa xng tm vi tim năng của Vit Nam. Vic quan trng cn làm bây gi là đt ra mục tiêu cho c d án đu tư mi mức khong 20 t USD mi năm, ch ra phương hưng để tăng cưng c nhân t có li và gim thiu c nhân t bt li.

Vậy đâu là những số liệu cho biết chính xác tình hình thu hút đầu tư giữa hai nước, thưa ông ?

Hiện tại, theo kết quả điều tra của Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO), đã xuất hiện nhiều tín hiệu vui đáng ghi nhận. Cụ thể như, có 65,9% doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam cho biết có kế hoạch mở rộng kinh doanh trong 1-2 năm tới, cao hơn tỷ lệ chung là 57,8%. Mặc dù tỷ lệ này có giảm trong hai năm qua, nhưng cần thấy được là trong cùng thời điểm thì tỷ lệ này tại Thái Lan và Trung Quốc còn giảm mạnh hơn.

Về lợi nhuận kinh doanh, có 60,2% số doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam trả lời là có lãi, thấp hơn tỷ lệ trung bình là 67,5% của khối các nước ASEAN, nhưng cao hơn mức 57,2% tại Trung Quốc. Tuy nhiên, có 34,2% số doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam tin rằng năm 2013 sẽ tốt hơn đối với họ, tăng 13,8% so với năm ngoái.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Nhật Bản cũng chỉ ra các điểm hạn chế khi đầu tư tại Việt Nam như trong khi đánh giá cao triển vọng kinh tế và tiềm năng của thị trường, các doanh nghiệp Nhật Bản lại không đánh giá cao Việt Nam vì chi phí nhân công hiện nay là 18,3%, cao hơn mức 16,8% của toàn khối ASEAN. Vấn đề tăng lương cũng là một gánh nặng cho các doanh nghiệp Nhật Bản. Theo đó năm 2012 lương tăng 19,7% và dự kiến sẽ tiếp tục tăng 17,5% trong năm 2013. Cho dù, về giá trị tuyệt đối, thì tiền lương ở Việt Nam vẫn thuộc mức thấp so với các quốc gia khác trong khu vực. Một điểm khác bị đánh giá thấp là tỷ lệ nội địa hóa chỉ ở mức 27,9%, thấp hơn nhiều so với mức bình quân chung là 47,8% và so với mức 60,8% của Trung Quốc hay 52,9% của Thái Lan, thậm chí Indonesia cũng đã đạt mức 43,3%.

Theo ông, môi trường đầu tư của Việt Nam - Nhật Bản so với các nước trong khu vực ASEAN có những khác biệt nào?

Nếu phân tích kỹ việc thu hút đầu tư đối với các DN Nhật Bản thì hiện Việt Nam đang phải chịu rất nhiều cạnh tranh từ các nước trong khu vực. Cụ thể, theo kết quả điều tra của JETRO, 81,5% DN Nhật Bản lo ngại việc tăng tiền lương cho người lao động. Trong khi đó, lương của công nhân trong ngành sản xuất chế tạo của Cam-pu-chia chỉ bằng một nửa của Việt Nam nên nếu chỉ xét về tiền lương thì có thể thấy Cam-pu-chia là đối thủ nặng ký của Việt Nam. Việc này cũng kéo theo áp lực tăng lương cho người lao động khiến chi phí nhân công ở Việt Nam tăng cao. Do đó, Việt Nam cần có lộ trình tăng lương phù hợp, vừa bảo đảm quyền lợi của người lao động vừa duy trì được lợi thế cạnh tranh trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Ngoài ra, năng lực, ý thức của người lao động địa phương, chất lượng của người lao động, khó khăn trong việc tuyển chọn nhân lực làm lãnh đạo cũng là những vấn đề lớn đang tồn tại ở Việt Nam. Có tới 60,5% DN Nhật Bản than phiền về năng lực, ý thức của người lao động tại địa phương và 54,7% DN Nhật Bản gặp khó khăn trong việc tuyển dụng nhân tài ứng cử làm lãnh đạo. Một rào cản khác mà các nhà đầu tư Nhật Bản đang phải tháo gỡ là tìm kiếm nguyên liệu, linh kiện ở Việt Nam. Chi phí mua nguyên liệu, linh kiện chiếm hơn một nửa giá thành sản xuất của các DN Nhật Bản nên việc giảm chi phí nguyên liệu đang là thách thức chung đối với các DN Nhật Bản. Trong khi đó, tỷ lệ nội địa hóa nguyên liệu, linh kiện của Việt Nam chỉ là 27,9%, thấp hơn mức bình quân chung 47,8%, thấp hơn nhiều so với Trung Quốc (60,8%), Thái Lan (52,9%), In-đô-nê-xi-a (43,3%)

Riêng trong lĩnh vực thu hút FDI của Việt Nam so với một số nước cũng có nhiều điểm khác biệt khá lớn. Như trường hợp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Thái Lan - mt quc gia phát trin trong s c nưc công nghip của ASEAN, năm 2011, đu tư trực tiếp nưc ngoài ca c nưc trên thế gii vào nước này là 904 d án, tng s vn đu tư khong 9,1 t USD. Nếu so sánh vi vn đu tư FDI vào Vit Nam t FDI đu tư vào Thái ít hơn khong 20 % c v s dự án và tng vn đu tư. Thế nhưng, nếu chỉ so sánh FDI của riêng Nht Bản tFDI của Nht Bản vào Thái Lan nhiu gp khong 2,3 ln s dự án, và gp khong 2,8 ln tng vn FDI của Nht vào Vit Nam. Con s này giúp chúng ta hiu đưc ti sao Thái Lan thu hút mnh m vn đu tư FDI t Nht Bản như vy. Đây cũng chính là do mà JETRO luôn nói rng rng chính ph Vit Nam cn hc hi t nhng dụ của Thái Lan, đ có th không làm gim đi khí thế đu tư của Nht Bản vào Vit Nam.

Một địa chỉ khác là Indonesia-mt quc gia cũng khá sôi đng về vic thu hút vn đu tư FDI trong nhng năm gn đây. Nếu so sánh vn FDI của c nưc trên thế gii vào Vit Nam, t số vn đu tư vào Indonesia nhiu gấp khong 4 ln s dự án, gp khong 1,7 ln tng s vn đu tư. Nếu so sánh vn đu tư FDI của Nht Bản vào Indonesia và Vit Nam, t tng s vn đu tư vào Vit Nam nhiu hơn 20%, nhưng số dự án đu tư vào Indonesia gp 2 ln Vit Nam. Khác vi Thái Lan, Indonesia không thiết lp mt chế độ khuyến khích nào đi vi vn đu tư FDI như thế này. Tôi ng rằng vn đu t FDI của c nưc trên thế gii vào Indonesia tp trung vào ngun tài nguyên th trưng rng ln hơn 200 triệu dân này, và môi trưng tiếp nhn vn FDI của Indonesia Vit Nam s có s khác bit ln do sự khác nhau v tình hình mi quc gia.

Do đó, trong dài hạn Việt Nam khi nhận biết được các điểm mạnh điểm yếu của mình, Việt Nam cần thiết lập các chính sách thu hút FDI để vượt qua các quốc gia trong khu vực và ASEAN.

Ông Đặng Xuân Quang Cục phó Cục Đầu tư nước ngoài (FIA)

Hiện tại Nhật Bản đang duy trì vị trí nhà đầu tư lớn nhất tại Việt Nam. Cụ thể, năm 2012, đầu tư của Nhật Bản chiếm 1/4 tổng số DA đầu tư mới, tương đương với khoảng 50% tổng số vốn đầu tư vào Việt Nam. Ngoài ra, Nhật Bản cũng là nước tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam và là đối tác thương mại lớn thứ ba của Việt Nam. Hai bên đang hợp tác xây dựng Chiến lược Công nghiệp hóa của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam - Nhật Bản đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030. Trước những kết quả hợp tác thành công cùng mối bang giao bền chặt sâu sắc, tin tưởng rằng mối quan hệ đầu tư – thương mại giữa hai quốc gia sẽ phát triển và thành công hơn nữa trong tương lai.

PGiáo -Tiến sĩ Bùi Tất Thắng, Viện trưởng Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch - Đầu tư (DSI)

Việt Nam đánh giá cao những kết quả từ “Điều tra về tình hình hoạt động của các DN Nhật Bản tại châu Á và châu Đại Dương” lần này của JETRO. Điều đó cho thấy sự quan tâm, mong muốn của cộng đồng DN Nhật Bản đối với môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam. Nghiên cứu này đã chỉ ra những điểm mạnh và một số hạn chế của môi trường đầu tư tại Việt Nam. Qua đó, giúp Việt Nam có phương hướng đúng và trúng để cải thiện khó khăn, vướng mắc cho các DN Nhật Bản nhằm thu hút mạnh mẽ hơn dòng vốn FDI từ quốc gia này. Tuy nhiên, chúng ta cần nhìn nhận rằng vấn đề quan trọng nhất hiện nay là cần phải phát triển nguồn nhân lực có đủ trình độ theo chuẩn “quốc tế” chứ không hẳn nằm ở chính sách. “Nếu DN Việt Nam chưa sẵn sàng tiếp nhận công nghệ cao do DN nước ngoài chuyển giao thì chính sách dù có hợp lý cũng không giải quyết được gì” - ông Thắng nói.