10:01:09 | 24/5/2013
Thời gian qua, Việt Nam đã có nhiều chủ trương và giải pháp đúng đắn nhằm khôi phục và phát triển kinh tế trong nước, tháo gỡ khó khăn cho thị trường tài chính, tiền tệ, hệ thống ngân hàng bước đầu ổn định, lãi suất cho vay đã giảm nhiều… Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điểm tối trong bức tranh kinh tế vĩ mô. Nhiều ngành như ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, chứng khoán, bất động sản, xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất xi măng, sắt thép, cơ khí, vận tải, đóng tàu … vẫn gặp khó khăn, cụ thể là dư thừa năng lực sản xuất, năng lực cung ứng dịch vụ và đi kèm với việc nợ xấu từ đó dẫn tới khả năng cạnh tranh của các ngành kinh tế này là rất thấp.
Trong khi đó, Chính phủ chưa có biện pháp hữu hiệu để cải tổ hệ thống doanh nghiệp trong nước. Để cải tổ doanh nghiệp, vấn đề cơ bản là nhà nước phải tạo khuôn khổ pháp lý để thay đổi cơ cấu cổ đông trong hệ thống các doanh nghiệp lớn, từ cơ cấu sở hữu chủ yếu là cổ đông nhà nước, cổ đông cá nhân nhỏ lẻ sang cơ cấu cổ đông tổ chức, cổ đông chiến lược ( không phải là doanh nghiệp nhà nước) nhằm thay đổi cơ bản phương thức quản trị doanh nghiệp, tạo điều kiện cho hệ thống doanh nghiệp dễ dàng huy động được nguồn vốn cổ phần giá rẻ theo như thông lệ thế giới. Đây chính là con đường cơ bản để phát triển doanh nghiệp một cách bền vững.
Mặt khác, hệ thống giải pháp mà Chính phủ đã, đang và sẽ ban hành chưa đủ và chưa mạnh để giải quyết thực sự hiệu quả những khó khăn đã đề cập ở trên. Vấn đề đặt ra là phải tiếp tục tìm kiếm những giải pháp đòn bẩy để giải quyết nhanh những tồn tại lớn của nền kinh tế .Vì vậy, để thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh hơn, Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI) đã đề xuất ra 5 giải pháp cụ thể.

Giải pháp thứ nhất: Không hạn chế tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong khối doanh nghiệp niêm yết, trừ các doanh nghiệp hoạt động chính trong các ngành nghề kinh doanh có điều kiện; Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong ngành ngân hàng cần được nâng lên mức 49%/ vốn điều lệ, với những tổ chức tín dụng hoạt động yếu kém thì không hạn chế tỷ lệ sở hữu.
Đối với khối doanh nghiệp trong nước chưa niêm yết thì cũng đã áp dụng qui định không hạn chế tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và hiện nay khối này đang hưởng lợi hơn khối doanh nghiệp niêm yết trong việc huy động vốn hay tái cấu trúc doanh nghiệp. Bên cạnh đó, qui định về tỷ lệ khống chế NĐTNN là 49%/ vốn điều lệ trong doanh nghiệp niêm yết là rào cản, giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp ( so với thông lệ thế giới).
VAFI cho rằng, đây là giải pháp quan trọng nhất cho tiến trình cải tổ doanh nghiệp, nhằm thay đổi cơ bản về cấu trúc cổ đông theo hướng tăng cường thu hút cổ đông tổ chức, cổ đông chiến lược để tạo điều kiện thay đổi phương thức quản trị DN, tạo cơ hội cho doanh nghiệp dễ dàng huy động được nguồn vốn giá rẻ và trong nhiều trường hợp sẽ tạo thêm thị truờng xuất khẩu cho doanh nghiệp.
“Nếu đề xuất này được chấp thuận thì chỉ trong vòng 3 năm, khối doanh nghiệp VN sẽ huy động được thêm khoảng 10 tỷ đô la và bức tranh về doanh nghiệp VN sẽ thay đổi cơ bản”, VAFI khẳng định.
Giải pháp thứ hai, cần khuyến khích người nước ngoài mua các loại nhà ở cao cấp với thủ tục đơn giản. Chính phủ đã có chủ trương mở rộng đối tượng người nước ngoài mua nhà tại VN và giao cho các Bộ ngành liên quan soạn thảo chính sách, tuy nhiên đến bao giờ chủ trương này mới đi vào cuộc sống và liệu có áp dụng đuợc không nếu như thủ tục mua nhà quá phức tạp?
Vì vậy, theo VAFI, cần có chính sách khuyến khích người nước ngoài mua bất động sản như nhiều nước trên thế giới đã áp dụng với thủ tục đơn giản nhất, chẳng hạn như với cá nhân người nước ngoài, điều kiện pháp lý để mua là chỉ cần có hộ chiếu , và khi họ đã đầu tư với số tiền nào đấy thì cần có chính sách visa ưu đãi.
Chính sách khuyến khích người nước ngoài mua bất động sản VN chưa thể là giải pháp mạnh cho thị trường bất động sản ( do môi trường sống và môi trường đầu tư của VN còn ở vị thế kém cạnh tranh so với nhiều quốc gia ) nhưng sẽ góp phần giải quyết khó khăn cho thị trường bất động sản nhiều năm tới, đồng thời sẽ đem lại nhiều lợi ích trong thúc đẩy du lịch, thúc đẩy đầu tư nước ngoài.
Nhiều ví dụ cho thấy, Hong Kong, Singapore…có diện tích nhỏ nhưng họ không hạn chế người nước ngoài mua bất động sản. Hạn chế nếu có là khi nhu cầu mua nhà của người nước ngoài tăng lên thì họ gia tăng tiền thuế ( như thuế trước bạ ) để kiểm soát giá đất trong nước và thu hút có chọn lọc hơn người nước ngoài mua nhà .
Giải pháp thứ ba, cần chấm dứt ngay tình trạng vàng hóa nền kinh tế bằng giải pháp tính thuế giá trị gia tăng ( mức 10% ) theo phương pháp khấu trừ với hoạt động kinh doanh vàng miếng và vàng trang sức. Phân tích cho thấy, hoạt động đấu thầu vàng miếng mà NHNN áp dụng chỉ là giải pháp tạm thời nhằm giải quyết nguồn cung cho các tổ chức tín dụng, chứ không phải là giải pháp chống vàng hóa nền kinh tế. Hầu như tất cả giải pháp mà NHNN áp dụng từ trước tới nay trong quản lý thị trường vàng đều không có trên thế giới và đều không làm giảm tình trạng vàng hóa, hàng chục tỷ đô la đang bị chôn vùi và đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới chính sách lãi suất, chính sách ổn định tỷ giá…..
Việc đặt mục tiêu “phải làm cho giá vàng trong nước sát với giá vàng thế giới” không phải là giải pháp ổn định kinh tế vỹ mô mà có khi có tác dụng ngược lại. Thực tế cho thấy, để giá trong nước sát với giá vàng thế giới lại nảy sinh đầu cơ mạnh, điều đó có nghĩa là làm gia tăng dòng vốn chết. Khi giá vàng trong nước và thế giới chênh lệch cao thì nảy sinh buôn lậu và khuyến khích sản xuất “ hàng trang sức trá hình”.
Theo VAFI, không có 1 mặt hàng nhập khẩu nào mà lại có giá bằng hoặc sát với giá thế giới. Khi mua hàng về VN, hàng hóa đó phải chịu chi phí vận chuyển, chi phí quản lý và chi phí các loại thuế, cho nên các nhà hoạch định chính sách cần phải xem lại nhiệm vụ này mà NHNN đang phải tiến hành.
Giải pháp thứ tư, từng bước hạ lãi suất tiền gửi ngoại tệ và nhanh chóng hướng tới mục tiêu lãi suất tiền gửi ngoại tệ bằng không, điều này sẽ làm tăng vị thế VND và có tác dụng làm giảm lãi suất tiền gửi nội tệ xuống mức thấp hơn nữa.
Việc đánh thuế GTGT lên hoạt động kinh doanh vàng và việc đưa lãi suất tiền gửi ngoại tệ bằng 0 sẽ hậu thuẫn rất lớn cho việc đưa lãi suất tiền gửi nội tệ về mức 4% - 5 % /năm. Lãi suất cho vay thấp sẽ kích thích thị trường chứng khoán phát triển và giúp cho thị trường bất động sản nhanh chóng phục hồi, hệ thống doanh nghiệp trong nước dễ dàng huy động được vốn giá rẻ. Đây cũng là giải pháp quan trọng để xử lý nhanh nợ xấu.
“Nếu nhanh chóng áp dụng giải pháp thứ 3 và thứ 4 thì chỉ trong vòng 4 – 5 năm nữa, dự trữ ngoại hối dễ dàng đạt mục tiêu 100 tỷ đô la và mục tiêu này là không khó thực hiện”, VAFI khẳng định.
Giải pháp thứ năm, lãnh đạo các cơ quan chính phủ nên dành nhiều thời gian trực tiếp tham vấn, chỉ đạo để tìm kiếm, lựa chọn và xây dựng những giải pháp kinh tế then chốt. Nghị quyết 02 của Chính phủ bao gồm nhiều giải pháp cơ bản và khả thi để tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế. Điều đặc biệt ấn tượng của Nghị quyết này là Thủ tướng Chính phủ trực tiếp đi tham vấn cộng đồng doanh nghiệp và các bên hữu quan, trực tiếp chỉ đạo, đôn đốc các Bộ trưởng kinh tế ; các Bộ trưởng kinh tế như Thống đốc ngân hàng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng trực tiếp đi tham vấn cộng đồng doanh nghiệp và các Hiệp hội, tham vấn báo chí và chỉ đạo cấp dưới tham mưu các giải pháp thiết thực.
Chỉ trong vòng hai tuần, những giải pháp cơ bản của Nghị quyết 02 đã được hình thành, rất cụ thể và mang tính thực tiễn cao, những giải pháp khả thi từ các doanh nghiệp và Hiệp hội kiến nghị đã được tiếp thu…
Quỳnh Anh