Tiếp tục hành trình thực hiện thành công các “mục tiêu kép”

12:34:49 PM | 14/2/2021

Trước những “đột biến” chưa từng có trong lịch sử nhưng Việt Nam đã đạt được nhiều “mục tiêu kép” quan trọng, được cộng đồng thế giới đánh giá cao. Có thể nói rằng “thế nước đang lên, niềm tin trở lại”, kinh tế vĩ mô ổn định hơn hẳn, cải cách thể chế được đẩy mạnh, cộng đồng doanh nghiệp rất kỳ vọng vào những thành quả đã đạt được sẽ là cơ sở vững chắc cho Việt Nam tiến vào giai đoạn phát triển mới thành công. Nhân dịp Xuân Tân Sửu, phóng viên Vietnam Business Forum đã cuộc phỏng vấn TS Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI. Duy Anh thực hiện.

Thưa ông, việc kiểm soát tốt tình hình dịch bệnh và cải cách của Việt Nam trong năm qua đã có tác động thế nào đến tinh thần cũng như sự phát triển của doanh nghiệp, doanh nhân?

Đúng như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhiều lần khẳng định: "Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay"...Việt Nam đã đạt được nhiều “mục tiêu kép” trong giai đoạn vừa qua: Phát triển kinh tế xã hội và chỉnh đốn xây dựng Đảng; ổn định kinh tế vĩ mô và duy trì tăng trưởng; đối nội và đối ngoại; hội nhập và tự chủ; đẩy lùi dịch bệnh và duy trì được sinh kế cho dân… 

Trong thời đại dịch, thế giới trở nên mong manh, sức mạnh của các cường quốc kinh tế và công nghệ bị đe doạ, nền kinh tế thế giới lún sâu trong khủng hoảng, nhưng Việt Nam đã kiềm chế được dịch bệnh và duy trì tăng trưởng dương trong tâm thế vững vàng, nổi lên là một trong những điểm sáng trên bản đồ kinh tế thế giới.

Tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt 2,91%, tuy là mức tăng thấp nhất trong thập kỷ gần đây nhưng trong bối cảnh dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, thì đây là thành công lớn, thuộc nhóm tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới. Như vậy, năm 2020, quy mô nền kinh tế Việt Nam đạt khoảng 343 tỷ USD, đứng trong Top 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN với GDP bình quân đầu người đạt 3.521 USD (đứng thứ 6 ASEAN).

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2020 đạt 543,9 tỷ USD. Trong năm 2020 đã có 112 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn  đạt 28,5 tỷ USD (giảm 25% so với năm 2019), trong đó dẫn đầu là Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản... Trong khi đầu tư toàn cầu suy giảm rất mạnh do tác động của đại dịch Covid-19, kết quả này là tốt hơn nhiều so với các quốc gia khác và thể hiện sức hấp dẫn của Việt Nam trong giới đầu tư quốc tế.

Những thành công về mặt kinh tế nói trên là kết quả của những nỗ lực kiên trì, không mệt mỏi của Nhà nước từ đầu năm đến nay trong việc khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh và tạo thuận lợi cho sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp. Trong những thành tựu đó, phải kể đến việc Chính phủ đã thiết lập được nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định hơn hẳn so với các nhiệm kỳ trước đây, thể hiện ở việc kiềm chế lạm phát, nợ công ở mức thấp, cán cân thanh toán vãng lai ổn định, xuất khẩu kỷ lục, dự trữ ngoại tệ tăng lên… Cùng với đó, cải cách thể chế kinh tế mà trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh. Chính phủ điện tử cũng được thúc đẩy với nhiều dịch vụ công trực tuyến được áp dụng. Các chỉ số về môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh theo các bảng xếp hạng toàn cầu được nâng hạng, và so với nhóm các nước dẫn dầu ASEAN đang thu hẹp lại.

Nhiều cơ hội mới đã được mở ra với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam như: Hiệp định Thương mại Tự do (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư  (EVIPA) giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (được phê chuẩn tháng 6/2020), Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) (ký kết vào ngày 15/11/2020); Hiệp định Thương mại tự do (FTA) Việt Nam - Vương quốc Anh (ngày 11/12/2020) và Thỏa thuận cộng gộp xuất xứ dệt may Việt Nam- Hàn Quốc (13/12/2020). Quốc hội cũng đã thông qua một số luật quan trọng, theo hướng thông thoáng hơn, như Luật Doanh nghiệp sửa đổi, Luật Đầu tư sửa đổi, Luật Xây dựng sửa đổi, Luật Đầu tư theo hình thức đối tác công tư…

Có thể khẳng định rằng, khả năng chống chịu, kiên cường đang trở thành một năng lực cạnh tranh cốt lõi của người Việt Nam cũng như nền kinh tế Việt trong bối cảnh một thế giới bất định và biến đổi khó lường. Bạn bè quốc tế khâm phục và Việt Nam đang trở thành điểm đến an toàn của các nhà đầu tư quốc tế trên hành trình chuyển dịch làn sóng đầu tư có trách nhiệm và bền vững toàn cầu.

Cho dù đạt được nhiều thành tựu nhưng phải thừa nhận rằng năm 2020 là năm cộng đồng doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức vô cùng to lớn. Dịch bệnh Covid-19 lây lan trên quy mô toàn cầu, thương chiến Mỹ-Trung có nhiều diễn biến phức tạp, cùng những thiệt hại to lớn do thiên tai xảy ra, đặc biệt là ở suốt dải miền Trung… đã ảnh hưởng lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

Trước bối cảnh đó, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đã thực hiện nhiều giải pháp để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh như đẩy mạnh hoạt động thương mại điện tử; kinh tế số, chuyển đổi sản phẩm, dịch vụ chủ lực; tích cực tìm kiếm thị trường mới cho nguyên liệu đầu vào cũng như thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra. Nhờ vậy mà trong năm 2020, cả nước có 134,9 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là hơn 2.235,6 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 1.043 nghìn lao động, giảm 2,3% về số doanh nghiệp, tăng 29,2% về vốn đăng ký và giảm 16,9% về số lao động so với năm trước. Bên cạnh đó, còn có 44,1 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 11,9% so với năm 2019, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong năm 2020 lên 179 nghìn doanh nghiệp, tăng 0,8% so với năm trước. Trung bình mỗi tháng có 14,9 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.

Những thành công kinh tế đã nêu cũng chính là nhờ kết quả của sự cố gắng vượt bậc của các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh khó khăn chưa từng có này. Nhiều doanh nghiệp đã chủ động lên kịch bản để ứng phó với khó khăn, rất nỗ lực duy trì sản xuất, chủ động nguồn nguyên liệu, thay đổi sản phẩm để tồn tại. Các doanh nghiệp đều cố gắng có đơn hàng dù nhỏ để bảo đảm cho người lao động có việc làm, có thu nhập...

Nhiều dự báo cho thấy năm 2021 vẫn là năm kinh tế thế giới vẫn gặp nhiều khó khăn và Việt Nam không là ngoại lệ. Cộng đồng doanh nghiệp kỳ vọng Chính phủ có các biện pháp cụ thể và nhanh chóng để giải quyết ngay các nút thắt đang cản trở doanh nghiệp tận dụng các cơ hội hội nhập từ các FTA. Ông có đề xuất gì để giải quyết các nút thắt đó?

Bước vào năm 2021, năm đầu tiên thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2021-2030, Chính phủ tiếp tục tập trung thực hiện hiệu quả mục tiêu vừa phòng, chống dịch bệnh, vừa phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội; thúc đẩy mạnh mẽ cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tính tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế; đẩy nhanh chuyển đổi số và phát triển nền kinh tế số, xây dựng xã hội số; Chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, thuận lợi để khơi thông các nguồn lực cho phát triển...

Có rất nhiều vấn đề mà nếu giải quyết nhanh chóng sẽ hỗ trợ rất lớn cho cộng đồng doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay. Ngay từ khi dịch Covid 19 bắt đầu bùng phát từ đầu năm, VCCI đã thực hiện điều tra đánh giá về ảnh hưởng của dịch đối với doanh nghiệp, báo cáo và kiến nghị lên Chính phủ nhiều giải pháp giải quyết khó khăn. Nhiều kiến nghị đó đã được Chính phủ xem xét và áp dụng trong các biện pháp hỗ trợ của Chính phủ đối với doanh nghiệp.

Trong giai đoạn hiện nay, còn nhiều nút thắt mà cộng đồng doanh nghiệp mong muốn Chính phủ tháo gỡ, trong đó, về nguồn nhân lực, đề nghị xây dựng và thực hiện các Chương trình đào tạo công nhân kỹ thuật chuyên sâu, bài bản trong những ngành công nghiệp kỹ thuật phụ trợ cần thiết nhất hiện nay. Chúng ta phải có các Chương trình đào tạo kỹ năng cụ thể, cho từng ngành nghề, lĩnh vực công nghiệp kỹ thuật phụ trợ cụ thể thuộc các chuỗi giá trị trọng điểm, và nằm trong chiến lược cụ thể thu hút các chuỗi FDI chuyển dịch; cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực dựa trên các đánh giá khoa học và dự báo được về những thay đổi của thị trường lao động việc làm trong 5-10 năm tới. 

Về cơ sở hạ tầng, VCCI và cộng đồng doanh nghiệp kiến nghị Chính phủ chỉ đạo tập trung triển khai hiệu quả Luật PPP và Luật Đầu tư công với ưu tiên cho lĩnh vực cơ sở hạ tầng giao thông và các dự án đang triển khai dở dang; đảm bảo sự kết nối các khu vực sản xuất trọng điểm (nông nghiệp, công nghiệp) đến các cửa khẩu quốc tế...

Về nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, mặc dù đây là công việc của từng doanh nghiệp, cộng đồng doanh nghiệp kỳ vọng Chính phủ có thể hỗ trợ doanh nghiệp tăng cường năng lực và chất lượng xúc tiến đầu tư thương mại thông qua mạng lưới các cơ quan đại diện ngoại giao hay dành nguồn lực thích đáng cho những tổ chức xúc tiến thương mại như VCCI. Các hoạt động cần thiết có thể triển khai như: thiết lập Cổng thông tin về thị trường và kết nối kinh doanh cho doanh nghiệp, đặc biệt với thị trường EU và các thị trường mà Việt Nam đã có FTA (với các thông tin về các cam kết thương mại với Việt Nam; quy trình thủ tục xuất nhập khẩu; hệ thống các quy định pháp luật liên quan; các thông tin về đặc điểm thị trường, kênh phân phối…; các đầu mối, đối tác có nhu cầu)...

Cùng với đó, để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp phục hồi và phát triển trong thời gian tới, cộng đồng doanh nghiệp đang kỳ vọng Chính phủ tiếp tục đẩy mạnh cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, với trọng tâm là cải cách về thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, cắt giảm chi phí cho doanh nghiệp, triển khai thực chất việc xây dựng Chính quyền điện tử, trong đó cần ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính, tăng số dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và mức độ 4. Chủ động nghiên cứu và cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp về tiếp cận thị trường, tiếp cận vốn, thông tin thị trường lao động...

Những năm gần đây, các hoạt động kinh tế số đã có sự tăng trưởng nhanh chóng và được Chính phủ quan tâm, ưu tiên phát triển. Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đề ra mục tiêu đến năm 2025, kinh tế số chiếm tỷ lệ 20% GDP. Vậy các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng ở đâu và để đạt được mục tiêu này cần phải làm gì, thưa ông?

Kinh tế số sẽ là cơ hội để Việt Nam định vị lại mình, thay đổi mình trong nền kinh tế thế giới. Trong giai đoạn phục hồi sau đại dịch Covid-19, chuyển đổi số sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ tìm kiếm một mô hình hoạt động kinh doanh linh hoạt hơn, vừa tiết giảm chi phí, vừa tối ưu nguồn lực để vượt qua khó khăn.

Thời điểm này, vẫn còn rất nhiều doanh nghiệp đang thờ ơ đối với kinh tế số và nghĩ rằng chuyển đổi số chỉ là một phương tiện để phô diễn, không cho rằng đó là một khoản rất đáng đầu tư để nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Tư duy sợ mất mát, ngại thay đổi chính là rào cản lớn nhất cho sự chuyển đổi số của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế.

Do tầm quan trọng của kinh tế số, thương mại điện tử nên một số FTA thế hệ mới đều có một chương riêng quy định về vấn đề này với nội dung là bảo đảm tạo thuận lợi và bảo vệ các hoạt động thương mại điện tử, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, bảo vệ thông tin cá nhân, tôn trọng quyền tự do của các chủ thể thương mại điện tử. Bởi vậy, trong lĩnh vực hẹp như xuất nhập khẩu, việc tích hợp công nghệ số trong toàn bộ quá trình kinh doanh xuất nhập khẩu đối với doanh nghiệp là bắt buộc. Còn đối với các bộ, ngành, việc phối hợp vận hành nền tảng số giữa các cơ quan trong cả mạng lưới dịch vụ số bảo đảm cho xuất nhập khẩu như hải quan, thuế, logistics, ngân hàng... là vấn đề quan trọng sống còn.

Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, và định hướng đến năm 2030. Đây là cơ hội để Việt Nam trở thành một quốc gia số và đi đầu trong thử nghiệm mô hình và những công nghệ mới.

Mặc dù là lĩnh vực công nghệ, nhưng chuyển đổi số thành công hay thất bại lại không chủ yếu phụ thuộc vào công nghệ mà phụ thuộc chủ yếu vào quyết tâm chính trị, thể chế quốc gia. Bởi vậy, Chính phủ cần tạo ra hệ thống thể chế hiện đại với các quy định pháp luật phù hợp, cơ sở hạ tầng đồng bộ, cung ứng nguồn nhân lực dồi dào có kỹ năng, tạo được hệ sinh thái cho thương mại điện tử, cho nền kinh tế số... Đối với các doanh nghiệp, cần phải đổi mới mô hình kinh doanh, xác lập mô hình quản trị dựa trên công nghệ số, hướng tới các mục tiêu phát triển sáng tạo, bền vững, bao trùm…

Tôi muốn mượn mệnh lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho hành trình chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay là: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa”. Chuyển đổi số là một hành trình gian nan đòi hỏi quyết tâm cao và cần lòng dũng cảm. Chỉ bằng cách đó Việt Nam mới có thể vượt lên.

Trân trọng cảm ơn ông!

DN Canada ngày càng quan tâm tìm hiểu thị trường, xây dựng quan hệ kinh doanh mới tại Việt Nam
Bà Deborah Paul, Đại sứ Canada tại Việt Nam

Việt Nam là đối tác thương mại ngày càng lớn của Canada và ngày càng nhiều công ty Canada tìm đến Việt Nam đầy tiềm năng để đầu tư. Chúng tôi đánh giá cao nỗ lực của Chính phủ Việt Nam tạo ra một môi trường pháp lý thân thiện với doanh nghiệp và đơn giản hóa thủ tục hành chính cho doanh nghiệp. Ví dụ, việc ra mắt Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia và Trung tâm Thông tin, chỉ đạo điều hành của Chính phủ vào tháng 8 năm 2020 đánh dấu một bước tiến quan trọng đối với quá trình số hóa của Chính phủ nhằm kết nối các bộ, cơ quan ngang bộ, hợp lý hóa thủ tục hành chính và báo cáo các chỉ số hoạt động kinh tế - xã hội kịp thời giúp nâng cao hoạt động điều hành của Chính phủ.

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ và những nỗ lực tái cơ cấu kinh tế của Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính bền vững và sản xuất các sản phẩm và dịch vụ giá trị gia tăng sẽ góp phần tạo nên sức hấp dẫn của Việt Nam như là điểm đến của dòng vốn FDI và hoạt động thương mại. Những nỗ lực tạo ra một môi trường kinh doanh thân thiện của Việt Nam và hướng Việt Nam tới các tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt trong các lĩnh vực lao động, môi trường và mua sắm công được hoan nghênh và có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình thực hiện hiệu quả các hiệp định thương mại thế hệ mới như CPTPP.

Tôi được biết, lãnh đạo Chính phủ Việt Nam cũng đã thể hiện quyết tâm thúc đẩy khởi nghiệp và tinh thần khởi nghiệp. Đây là điều rất đáng khen ngợi. Chúng tôi tiếp tục khuyến khích các nỗ lực hỗ trợ doanh nhân nữ và doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, để đảm bảo tiếp cận bình đẳng những cơ hội và lợi ích từ tăng trưởng kinh tế.

Các doanh nghiệp Canada đón nhận những tín hiệu cải cách của Việt Nam trong những năm gần đây. Điều này thể hiện qua việc các công ty Canada ngày càng quan tâm tìm hiểu thị trường, xây dựng quan hệ kinh doanh mới tại Việt Nam trong nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, giáo dục, dịch vụ tài chính, ICT, hàng không vũ trụ và các công nghệ bền vững.

Quan hệ thương mại song phương giữa Canada và Việt Nam rất bền chặt và là một thành phần không thể thiếu trong quan hệ song phương giữa hai nước. Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Canada trong ASEAN kể từ năm 2015.

Các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam có nhiều cơ hội từ CPTPP, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất và chế biến máy móc điện tử, giày dép, may mặc, đồ gỗ, nông sản, thủy sản... Ngược lại, các sản phẩm của Canada như nông sản, thực phẩm, thủy sản, hải sản, lâm sản và các sản phẩm gỗ giá trị gia tăng được hưởng ưu đãi tại thị trường Việt Nam. Ngoài ra, CPTPP giúp Việt Nam nâng cao khả năng tiếp cận các lĩnh vực thuộc thế mạnh của Canada như di truyền, công nghệ sinh học, dịch vụ môi trường, công nghệ xanh và bền vững. Điều này có thể hỗ trợ quá trình tái cấu trúc ngành nông nghiệp đang diễn ra của Việt Nam, giúp nâng cao hiệu quả và tăng cường an ninh lương thực.

Trong năm đầu tiên thực hiện CPTPP (2019), giá trị thương mại hàng hóa song phương Canada-Việt Nam lập kỷ lục mới 7,9 tỷ CAD, tăng 23% so với cùng kỳ năm trước. Giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang Canada tăng gần 30% trong năm 2019 nhờ tăng trưởng xuất khẩu mặt hàng điện thoại di động, giày dép, nội thất và may mặc. Dù bị gặp ảnh hưởng tiêu cực từ đại dịch Covid-19, giá trị thương mại song phương vẫn ghi nhận mức tăng trưởng tích cực 10% trong 10 tháng đầu năm 2020. Những điều kiện thuận lợi này sẽ tiếp tục gia tăng khi CPTPP được nhiều thành viên phê chuẩn và gia nhập mới.

Nhân dịp kỷ niệm 2 năm CPTPP có hiệu lực, Đại sứ quán Canada đã phối hợp với VCCI tổ chức tọa đàm chung tổng kết tình hình thực hiện hiệp định và thảo luận các biện pháp nhằm tăng cường thương mại giữa hai nước trong thời kỳ hậu Covid.

Tôi cũng vui mừng nếu chúng ta có những kênh khác củng cố quan hệ thương mại và đầu tư trong năm 2021, đặc biệt là việc khởi động cuộc đàm phán FTA ASEAN-Canada. Khởi động các vòng đàm phán FTA ASEAN-Canada là tín hiệu quan trọng về cam kết thương mại chung của chúng tôi, dựa trên quy tắc, đóng góp vào nỗ lực phục hồi Covid-19 và hỗ trợ phát triển chuỗi cung ứng nội khối giữa các nhà cung cấp và người mua hàng Canada tại Việt Nam và Đông Nam Á.

Doanh nghiệp Italy hài lòng với môi trường kinh doanh Việt Nam
Ông Antonio Alessandro, Đại sứ Italy tại Việt Nam

Hiện có hơn 100 công ty Italy đang có lợi ích đầu tư và kinh tế tại Việt Nam. Nhìn chung họ đều rất hài lòng với môi trường kinh doanh địa phương và đánh giá cao sự ổn định chính trị và kinh tế của Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế, ví dụ như trong lĩnh vực hạ tầng hậu cần hoặc các thủ tục hành chính và hải quan, cũng như công tác bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, song Chính phủ Việt Nam đã cho thấy cam kết tuyệt vời trong việc giải quyết các vấn đề này: nhiều dự án hạ tầng mới đã được phê duyệt và trong năm 2020, một cổng thông tin chính phủ điện tử mới đã được triển khai nhằm đẩy nhanh và tạo thuận lợi cho việc giải quyết các vấn đề thủ tục.

Hiệp định EVFTA đã tạo thêm hiệu ứng tích cực theo hướng: việc cải cách Luật Lao động và các sắc lệnh liên quan mà chúng tôi đánh giá là những bước tiến quan trọng. Việc áp dụng một số quy định (điều chỉnh lại các mức thuế quan, các quy định về xuất xứ) cũng góp phần đẩy nhanh việc thưc thi Thỏa thuận. Chúng tôi mong muốn sớm hoàn tất quá trình này, để tất cả các mặt của EVFTA đều có hiệu lực thực thi đầy đủ. Tôi đặc biệt muốn đề cập đến việc loại bỏ các hàng rào phi thuế quan và việc đạt được sân chơi công bằng cho công ty hai nước. Mục tiêu chính của Italy là việc công nhận EU là một thực thể duy nhất, và không có sự phân biệt nào giữa 27 nước thành viên, trong các lĩnh vực nông nghiệp-thực phẩm và dược phẩm. Điểm này đã được Thứ trưởng Ngoại giao Italy Manlio Di Stefano nêu ra trong khóa họp lần trước của Ủy ban hỗn hợp về hợp tác kinh tế vào ngày 14/12/2020.

Thương mại của Italy với Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của đại dịch và chúng tôi sẽ dựa vào EVFTA để phục hồi sau khủng hoảng và đạt được mục tiêu 5 tỷ USD mà lãnh đạo hai nước đã đề ra trong chuyến thăm của Thủ tướng Giuseppe Conte tới Hà Nội, vào tháng 6/2019.

Các công ty Italy đang ngày càng quan tâm tới thị trường Việt Nam. Đại sứ quán Italy đã phối hợp thực hiện nhiều sự kiện quảng bá tại Việt Nam như “Hương vị Italy đích thực” do Phòng Thương mại Italy tại Việt Nam (ICHAM) tổ chức và “Hương vị Italy mỗi ngày” do Cơ quan Xúc tiến thương mại Italy (ICE) điều hành. Đại sứ quán cũng đóng góp vào một số sự kiện thuyết trình trực tuyến để quảng bá Việt Nam làm điểm đến giao thương và đầu tư cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Italy.

Chúng tôi nhận thấy tiềm năng to lớn trong các lĩnh vực truyền thống tuyệt vời với các sản phẩm sản xuất tại Italy như máy móc công nghiệp, nội thất, thời trang và thực phẩm, bao gồm cả những thương hiệu cao cấp lẫn các phân khúc thị trường giá rẻ. Trong lĩnh vực thực phẩm, sau đợt nhập khẩu táo đầu tiên của Italy vào Việt Nam trong năm 2020, chúng tôi đặt mục tiêu có thể hoàn tất việc việc cấp phép nhập khẩu kiwi, lê và thịt bò Italy.

Năm 2021 cũng đón nhận các thương hiệu ô tô mới của Italy: Thị trường Việt Nam đang rất phát triển và công nghiệp Italy cũng đang quan tâm rất lớn đến thị trường Việt. Các sản phẩm dược phẩm, mỹ phẩm và sức khỏe từ Italy cũng ngày càng được người tiêu dùng Việt đón nhận cả về chất lượng và độ an toàn. Cuối cùng, chúng tôi đang nỗ lực xem làm thế nào có thể tăng cường đưa các sản phẩm văn hóa và sáng tạo sang Việt Nam như TV, rạp chiếu, thiết kế, âm nhạc, nghệ thuật và thể thao.

Kinh doanh không hoàn toàn dựa vào lợi nhuận mà là xây dựng quan hệ đối tác
Bà Morakot Janemathukorn
, Đại biện lâm thời, Đại sứ quán Hoàng gia Thái Lan tại Hà Nội

Những đặc điểm của văn hóa kinh doanh Thái Lan và Việt Nam tương đồng với hầu hết các nước Đông Á và Đông Nam Á như chủ nghĩa tập thể, lịch sự, thể diện và tôn ti. Chúng tôi không cảm thấy quá bận tâm khi nói về cuộc sống cá nhân để xác định ai thực sự là đối tác và cần xây dựng niềm tin. Chúng tôi coi trọng địa vị xã hội, phẩm giá, đạo đức và danh dự của một người. Niềm tin là nền tảng quan trọng đối với những suy nghĩ và tình cảm chân thành. Đề cập các vấn đề thiếu tế nhị không được hoan nghênh trong ứng xử của người Việt Nam và người Thái. Giữ im lặng không phải lúc nào cũng là mong muốn thực sự của người nói mà là thiện chí muốn tránh xung đột. Văn hóa kinh doanh của Thái Lan cũng có khái niệm hưởng thụ hay ‘sanook’: Nỗ lực đạt được niềm vui trong bất cứ công việc gì. Mặc dù người Thái làm việc hiệu quả và cần cù nhưng các sáng kiến mang lại nhiều niềm vui hơn, đặc biệt là trong kinh doanh giải trí và tiếp thị, rất phổ biến. Người ta không nên đặt câu trả lời ‘Có’ hoặc ‘Không’ đầu tiên một cách quá lạc quan hay bi quan khi giao tiếp với người Thái hoặc người Việt Nam. Khi bạn có được niềm tin, bạn sẽ được đối xử như thành viên trong gia đình họ. Do đó, kinh doanh ở Thái Lan không hoàn toàn dựa vào lợi nhuận mà là xây dựng quan hệ đối tác, một quan niệm khá giống ở Việt Nam.

Bên cạnh đó, nền tảng quan hệ đối tác vững vàng là động lực chính trong lợi ích chung ở châu Á, cả Thái Lan và Việt Nam đã tiến hành hàng loạt cải cách thể chế để có môi trường kinh doanh tốt hơn trong những thập kỷ gần đây, do vậy nâng cao thứ hạng trong báo cáo về môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới. Thái Lan hiện đứng thứ 3 trong ASEAN trong khi Việt Nam là ngôi sao kinh tế đang lên của thế giới. Tôi tin rằng Việt Nam và Thái Lan có thể đóng góp hơn nữa vào kinh tế toàn cầu bất kể quy mô nền kinh tế của hai nước như thế nào, đúng như câu tục ngữ “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại lên hòn núi cao.”

Tôi hy vọng rằng việc kết nối tình hữu nghị ngày càng chặt chẽ hơn vì sự thịnh vượng chung và bền vững trong năm nay sẽ là dấu ấn nổi bật trong lễ kỷ niệm 45 năm Thái Lan và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 2021.

Bài học từ sự chênh lệch giàu nghèo và truyền thống tương thân tương ái
Ông MASUDA Chikahiro
Trưởng đại diện văn phòng JICA chi nhánh TP.Hồ Chí Minh

Tôi cảm thấy thật may mắn khi có được cơ hội sang Việt Nam làm việc lần thứ hai. Nhiệm kỳ trước của tôi kết thúc cách đây khoảng 3 năm, và trong 3 năm đó, theo công bố mới đây, GDP của Việt Nam đã tăng 22,4% và GDP bình quân đầu người đã tăng lên hơn 3.000 USD với cách tính mới.

Theo báo cáo năm 2019 của Knight Frank (Anh) – một công ty lớn mảng tư vấn và dịch vụ bất động sản- nhóm người Việt Nam siêu giàu với tài sản trên 30 triệu USD (khoảng 3,1 tỷ yên Nhật) có tốc độ gia tăng được xếp vào loại cao nhất thế giới.  Trên thực tế, số người Việt trong danh sách tỷ phú thế giới của Forbes đã tăng lên thành 5 người so với 1 người cách đây 3 năm.

Trước đây, Nhật Bản cũng đã từng có một thời kỳ như vậy. Trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế cao (thập niên 60-70 của thế kỷ trước) của thời Showa, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 10% trở lên, và toàn bộ nước Nhật đã được hưởng thành quả của sự tăng trưởng này. Tuy nhiên, ngay cả khi kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, như nhận thức chung “cả trăm triệu người đều là trung lưu”, xã hội Nhật lúc đó vẫn được coi là ít có sự chênh lệch giàu nghèo.

Tại Việt Nam, tỷ lệ chi cho y tế trên GDP là 5,9% (2017), cao hơn hẳn các nước láng giềng và tỉ lệ chi trung bình cũng được giữ khoảng 5,4% trong suốt 18 năm qua.

Vào thời điểm xảy ra thảm họa động đất và sóng thần năm 2011 ở Nhật Bản, Việt Nam ngay lập tức đã gửi lời thăm hỏi cũng như một số tiền quyên góp cứu trợ rất lớn đến Nhật.

Năm nay, khi miền Trung Việt Nam hứng chịu nhiều đợt bão lụt gây thiệt hại rất lớn, các nhân viên người Việt của Văn phòng JICA Việt Nam đã chủ động quyên góp tiền và quần áo ủng hộ đồng bào bị thiệt hại. Tôi nghĩ điều đó cho thấy Việt Nam là một quốc gia và một dân tộc coi trọng phúc lợi xã hội.

Hôm trước, tôi được nghe câu ca dao do nhân viên người Việt tại Văn phòng JICA chi nhánh TP. Hồ Chí Minh chia sẻ rằng: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Câu ca dao khuyên nhủ người trong cùng cộng đồng phải thương yêu, đùm bọc lẫn nhau trong cuộc sống, như trái bầu trái bí tuy khác nhau nhưng mọc lên ở cùng một nơi, lớn lên theo cùng một cách.

Tôi tin rằng Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng kinh tế và ngày càng thịnh vượng hơn. Đồng thời, tôi cũng mong các bạn sẽ vừa lấy sự chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn đang diễn ra trên thế giới như một bài học cho mình, vừa coi trọng truyền thống giúp đỡ lẫn nhau để phát triển xã hội một cách hoàn thiện và cân bằng.

Việt Nam đang có lợi thế rất lớn trong thu hút FDI
Ông Francois Painchaud, Đại diện thường trú IMF tại Việt Nam và Lào

Trước đại dịch Covid-19, Việt Nam đã có thời kỳ tăng trưởng cao kéo dài và có mức sống cải thiện ấn tượng. Trong những năm gần đây, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đạt trung bình 7%/năm, một trong những mức tăng cao nhất trên thế giới, nhờ cam kết ổn định kinh tế vĩ mô, mở cửa thương mại và khu vực tư nhân dẫn dắt tăng trưởng. Ngoài ra, Việt Nam cũng tích cực giảm thâm hụt tài khóa, giảm tỷ lệ nợ trên GDP và tăng dự trữ ngoại hối. Sức khỏe tài chính của hệ thống ngân hàng cũng được cải thiện.

Việt Nam đã có những bước đi quyết định để ngăn tác động tiêu cực của Covid-19 đối với kinh tế và y tế. Việc áp dụng nhanh chóng các biện pháp ngăn chặn, kết hợp với truy vết tiếp xúc gần, xét nghiệm có mục tiêu và cách ly các trường hợp nghi nhiễm đã giúp ngăn chặn các ca lây nhiễm mới. Chính sách tài khóa đã hỗ trợ các hộ gia đình và doanh nghiệp dễ bị tổn thương. Các biện pháp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giúp giảm chi phí đi vay và giữ dòng chảy tín dụng hoạt động liên tục. Những điều này đã giúp hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid-19 và giúp kinh tế tăng trưởng 2,9% trong năm 2020, một trong những mức cao nhất trên thế giới.

Cần tiếp tục cải cách cơ cấu để tận dụng tối đa tiềm năng lớn của Việt Nam. Những cải cách này sẽ hỗ trợ tăng trưởng mạnh mẽ và bao trùm, đồng thời giảm khoảng cách giữa khu vực kinh tế FDI và khu vực kinh tế khác - điểm đặc trưng của kinh tế Việt Nam là khu vực FDI hoạt động hiệu quả và khu vực ngoài FDI chiếm đa số nhưng kém hiệu quả hơn nhiều.

Việt Nam có lợi thế rất lớn trong thu hút FDI khi đại dịch Covid-19 qua đi. Rõ ràng Covid-19 đã ảnh hưởng tiêu cực đến chuỗi giá trị toàn cầu và dòng vốn FDI trên thế giới và tại Việt Nam. Sự phục hồi kinh tế toàn cầu sau đại dịch có thể tái tạo sức mạnh cho chuỗi giá trị toàn cầu và dòng vốn FDI. Việt Nam có rất nhiều tiềm năng thu hút nhà đầu tư nước ngoài: Việt Nam đã rất thành công trong kiểm soát đại dịch Covid-19 trong khi vẫn duy trì ổn định kinh tế vĩ mô; có dân số lớn, thu nhập ngày càng tăng, triển vọng kinh tế khả quan, vị trí địa lý thuận lợi, nền kinh tế có độ mở lớn và các cấp chính quyền không ngừng nỗ lực tăng cường hiệu quả của các hiệp định thương mại; và Việt Nam cam kết cải thiện thể chế và quy định, cơ sở hạ tầng và kết nối; củng cố các năng lực đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp.

Vốn FDI đã, đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam nhưng nguồn vốn khu vực ngoài FDI cũng rất lớn và tạo ra phần lớn việc làm ở Việt Nam. Ở đây, Chính phủ cần giúp giải phóng sức sáng tạo, tính cần cù của người Việt Nam bằng cách giảm bớt gánh nặng pháp lý mà các doanh nghiệp tư nhân gặp phải, cải thiện khả năng tiếp cận đất đai và các nguồn tài chính, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, và ngăn chặn tham nhũng. Việc xây dựng cơ chế phá sản riêng cho DNVVN nhanh chóng sẽ giúp khai thông nguồn vốn và giảm các khoản thanh lý không cần thiết. Giảm tình trạng lao động không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng, tăng nguồn vốn con người và khả năng tiếp cận công nghệ cũng sẽ thúc đẩy năng suất lao động tăng lên.

Cơ hội và thách thức
Ông Takeo Nakajima, Trưởng đại diện JETRO Hà Nội, Phó chủ tịch JCCI

VCCI và cộng đồng doanh nghiệp Nhật Bản có quan hệ hợp tác tốt đẹp trong nhiều năm qua. Cả hai bên đều có cùng mục tiêu phấn đấu; giúp kinh tế Việt Nam phát triển mạnh mẽ hơn và đưa Việt Nam trở thành điểm đến kinh doanh thân thiện để thu hút các công ty xuất sắc.

Quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản tiếp tục phát triển ngay cả trong thời kỳ khủng hoảng Covid-19. JETRO, với vai trò là cơ quan trực thuộc Chính phủ Nhật Bản, đã và đang hỗ trợ các doanh nghiệp Nhật Bản bắt đầu và mở rộng kinh doanh tại Việt Nam thông qua nhiều công cụ khác nhau.

Cơ hội kinh doanh ở Việt Nam dựa trên ba yếu tố: Có thị trường trong nước đang phát triển, là cơ sở xuất khẩu cạnh tranh và có lĩnh vực kỹ thuật số đầy tiềm năng. Thứ nhất, nhiều doanh nghiệp Nhật Bản tập trung vào thị trường Việt Nam, vốn đã tăng trưởng ở mức hai con số trong những năm qua. Theo khảo sát của JETRO năm ngoái, lý do đầu bảng để doanh nghiệp Nhật Bản mở rộng hoạt động kinh doanh tại Việt Nam là thị trường nội địa đang phát triển (B2B và B2C).

Thứ hai là cơ sở xuất khẩu: Nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký kết, chi phí cạnh tranh, hoạt động sản xuất ổn định nhờ kiểm soát được đại dịch. Các công ty toàn cầu tại châu Á có kế hoạch chuyển dịch chuỗi cung ứng và Việt Nam là một quốc gia quan trọng trong kế hoạch di dời chuỗi cung ứng của họ.

Thứ ba là không gian kỹ thuật số và đổi mới. JETRO hỗ trợ kết nối các doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp Nhật Bản. Nhật Bản có công nghệ, kinh nghiệm và mạng lưới toàn cầu tốt, Việt Nam có ý tưởng, sản phẩm và nhân tài. Logistics, vận tải, bán lẻ, FA, chăm sóc sức khỏe, giáo dục và bảo vệ môi trường là những lĩnh vực tiềm năng.

Tuy nhiên, bên cạnh  những cơ hội, kinh tế Việt Nam cũng sẽ đối mặt những thách thức. Thứ nhất, do đại dịch, giao dịch kinh doanh bị thu hẹp cả trong nước và quốc tế. Khảo sát của JETRO cho thấy 49% doanh nghiệp được hỏi tại Việt Nam bị sụt giảm đơn hàng, cao hơn mức 24% của năm trước dù họ hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau. Giá sụt giảm tại Thái Lan, Indonesia và các nước ASEAN khác - tác động tiêu cực ảnh hưởng toàn khu vực.

Nguồn: Vietnam Business Forum