Khó khăn kinh tế sẽ dần được cải thiện

11:17:51 | 6/7/2011

Các chỉ số kinh tế 6 tháng đầu năm như lạm phát và tăng trưởng được các cơ quan chức năng công bố đều thấp xa mục tiêu ban đầu mà Quốc hội VN đề ra. Tuy nhiên, tình hình kinh tế 6 tháng cuối năm được các chuyên gia đánh giá là vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng sẽ dần được cải thiện.

Những khó khăn nổi cộm…

Theo Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Võ Hồng Phúc, có 3 vấn đề khiến nền kinh tế VN khó khăn, đó là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng nhiều, lãi suất ngân hàng và nhập siêu.

Thống kê cho thấy, đến tháng 6, CPI đã tăng 13,29% so với cuối năm ngoái. Trong tháng 5, Chính phủ đã điều chỉnh mục tiêu CPI đến cuối năm tăng khoảng 15% so với cùng kỳ. Như vậy, 6 tháng cuối năm CPI chỉ được phép tăng chưa đầy 2% là một mục tiêu rất khó thực hiện. Nhiều chuyên gia nghiên cứu cho rằng, chỉ số CPI khả quan nhất mà VN có thể giữ được đến cuối năm là 17-18%. Theo đánh giá của ông Phúc, có hai áp lực khiến chỉ số giá còn tăng cao, đó là xu thế tăng giá chung trên toàn thế giới và tỷ giá. Tỷ giá của VN đã được giữ ổn định trong thời gian dài, nhưng giờ đang rục rịch tăng lên và có thể từ nay đến cuối năm tỷ giá còn tăng nữa.

Bên cạnh đó, vấn đề lãi suất ngân hàng đã có những tác động và ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế, đặc biệt là sản xuất kinh doanh. Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước vẫn khống chế lãi suất huy động VNĐ ở 14%. Tuy nhiên, trên thực tế, có rất nhiều giao dịch tại các ngân hàng thương mại không như vậy, mức lãi suất huy động VND thường cao hơn mức quy định trần tới 4-5%, lãi suất cho vay tới 22-24%. Theo ông Phúc, vấn đề này cần chú ý trong thời gian tới, bởi với những yếu kém của hệ thống ngân hàng hiện nay để kéo lãi suất giảm trong thời gian tới rất khó.

Nhập siêu cũng là một trong những khó khăn nổi cộm hiện nay. Theo ông Phúc, Quốc hội cho phép nhập siêu không quá 18% kim ngạch xuất khẩu, Chính phủ muốn đưa xuống dưới 16%. Nhưng thực tế 6 tháng đã hơn 18%. Tỷ lệ này sẽ đe dọa an toàn của cán cân thanh toán, dự trữ ngoại hối, từ đó mà ảnh hưởng tới cân đối vĩ mô nói chung.

Theo Báo cáo Cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam tháng 6/2011- một ấn phẩm bán thường niên của Ngân hàng Thế giới để tìm hiểu những thay đổi kinh tế vĩ mô gần đây ở Việt Nam, đánh giá về tình trạng bất ổn kinh tế vĩ mô hiện nay, báo cáo này xây dựng một mô hình ước tính tình trạng bất ổn kinh tế vĩ mô – Chỉ số Ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam (VIMIS) dựa trên biến động của bốn biến số là tỉ giá danh nghĩa, dự trữ ngoại hối, tốc độ lạm phát và lãi suất danh nghĩa. Kết quả của phép đo này cho thấy mức độ mất ổn định kinh tế vĩ mô hiện nay đã đến sát với mức độ bất ổn vào giữa năm 2008, tuy nhiên vẫn chưa vượt quá. Tuy vậy, báo cáo này cũng đưa ra cảnh báo, mất ổn định kinh tế vĩ mô năm 2011 khác với năm 2008 (năm 2008, mức độ mất ổn định tăng mạnh và lại giảm ngay). Với đợt tăng trưởng nóng này, tình trạng mất ổn định đã kéo dài trong một thời gian khá dài (từ tháng 11/2010 đến tháng 2/2011) làm cho nền kinh tế Việt Nam rơi vào một thời kỳ lo ngại.

Trước nỗ lực, quyết tâm cao của Chính phủ VN nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, báo cáo này đánh giá Chính phủ Việt Nam đã thành công trong việc phục hồi lại mức độ ổn định vĩ mô đáng kể trong vòng vài tháng qua. Sau kết thúc thành công của Đại hội Đảng lần thứ XI và Tết Nguyên Đán vào đầu tháng 2, các cơ quan chức năng đã kịp thời có những hành động để giải quyết các vấn đề kinh tế vĩ mô của đất nước. Tiền đồng của Việt Nam bị phá giá 9,3% so với đồng đô-la Mỹ vào ngày 11/2/2011, và một gói chính sách bình ổn (một phần được thể hiện thông qua Nghị quyết 11 đã được phê duyệt vào ngày 24/2/2011). Báo cáo này nhận xét, Nghị quyết 11 bao gồm những mục tiêu chính sách tiền tệ và tài khóa mạnh mẽ, củng cố lẫn nhau và rất nhất quán, và gồm cả việc chính phủ lên kế hoạch tiến hành các biện pháp tái cơ cấu, cải cách doanh nghiệp nhà nước, cải thiện thông tin thị trường và bảo vệ người nghèo khỏi những cú sốc bất ổn kinh tế vĩ mô trong tương lai.

Tuy nhiên, theo báo cáo, các nỗ lực bình ổn kinh tế mới là sự khởi đầu. Dù ban đầu có nhiều băn khoăn, song hiện nay dư luận đã công nhận rộng rãi rằng Nghị quyết 11 là một kế hoạch đáng tin cậy và là một bước đi quan trọng để dành lại sự ổn định kinh tế vĩ mô cho Việt Nam. Lần đầu tiên sau ba năm, đồng Việt Nam đã được giao dịch tại các ngân hàng thương mại thấp hơn tỷ giá tham chiếu chính thức. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bắt đầu mua ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng, qua đó nâng cao dự trữ ngoại hối lên đáng kể. Mức độ rủi ro tín dụng của Việt Nam trên thị trường quốc tế đã cải thiện trong thời gian qua. Tuy nhiên vẫn còn vô số rủi ro vĩ mô trong hệ thống và chúng có thể làm đảo ngược những kết quả bước đầu trong ba tháng vừa qua.

… và những dự báo

Theo ông Phúc, mục tiêu số một vẫn là kiềm chế lạm phát, nhưng VN cần duy trì mức độ tăng trưởng hợp lý. VN luôn mong muốn một tốc độ tăng trưởng hợp lý, vào cỡ khoảng 6%. Đó là tỷ lệ tăng trưởng hợp lý để có thể ổn định kinh tế, giải quyết công ăn việc làm đại bộ phận dân cư đặc biệt là người nghèo. Nếu không có tăng trưởng, thì thất nghiệp, đặc biệt là ở khu vực người nghèo sẽ tăng cao.

Theo đánh giá trong Báo cáo của WB, mặc dù đạt được thành công bước đầu, các cơ quan chức năng VN vẫn cần cảnh giác nếu chấm dứt quá sớm các biện pháp chính sách theo Nghị quyết 11. Việc thực hiện Nghị quyết 11 không phải chỗ nào cũng được làm tốt: những nỗ lực kiểm soát đầu tư công bị chậm triển khai, cải cách doanh nghiệp nhà nước chưa được thể hiện rõ ràng và các biện pháp nhằm thông tin tốt hơn với thị trường vẫn còn chậm chạp và do dự. Với dự kiến tăng trưởng sẽ chậm lại trong quý II và quý III năm 2011, có thể sẽ nảy sinh nhu cầu nới lỏng chính sách tiền tệ và tài khóa vào những thời điểm nhất định và cải cách cơ cấu đi chậm lại. Nhượng bộ cho những nhu cầu này có thể buộc toàn thể nền kinh tế phải trả giá đắt. Hơn nữa, đây là cơ hội để các cơ quan chức năng khôi phục lại sự tín nhiệm thông qua việc thực hiện Nghị quyết 11 một cách cương quyết và hiệu quả cho đến khi đạt được ít nhất là ba mốc quan trọng, đó là: lạm phát trở về mức bình ổn một chữ số; hoàn toàn xóa bỏ được chênh lệch về tỉ giá; và, mức dự trữ ngoại hối tối thiểu tương đương với 2,5 tháng nhập khẩu.

Cũng theo báo cáo này, kinh tế Việt Nam sẽ dần dần được cải thiện trong 6 tháng cuối năm 2011. Tốc độ lạm phát dự kiến lên cao nhất trong quý II và sau đó giảm dần xuống khoảng 15% vào cuối năm, khi chính sách thắt chặt phát huy đầy đủ tác dụng. Mức thâm hụt tài khoản vãng lai ước tính vào khoảng 5% GDP và thị trường ngoại hối sẽ ổn định trong tương lai gần. Một khi sự ổn định kinh tế vĩ mô dần được khôi phục, tình trạng “biến vốn” (capital flight) dự kiến sẽ giảm đi trong năm 2011, giúp cho Ngân hàng Nhà nước tích lũy dự trữ ngoại tệ nhanh hơn. GDP sau khi chững lại vào quý I và quý II sẽ tăng mạnh trở lại vào cuối năm. Báo cáo dự báo tăng trưởng kinh tế năm 2011 sẽ giảm xuống khoảng 6%, với tiềm năng tăng trở lại đáng kể vào năm 2012. Các rủi ro chính đối với triển vọng này bao gồm chấm dứt quá sớm các biện pháp bình ổn, sự trở lại của các vấn đề trong hệ thống ngân hàng và doanh nghiệp nhà nước và giá cả hàng hóa thế giới tiếp tục tăng hoặc cuộc khủng hoảng nợ ở châu Âu tới hồi kịch phát và những ảnh hưởng lây lan của nó đến những khu vực khác trên thế giới.

Quỳnh Chi