10:07:59 | 7/7/2011
Bên lề cuộc hội thảo “Bất ổn kinh tế vĩ mô và ý nghĩa phúc lợi: Kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với Việt Nam” do Văn phòng Chính phủ phối hợp với Ngân hàng thế giới tại Việt Nam (WB) tổ chức, phóng viên Tạp chí Vietnam Business Forum đã có cuộc trao đổi với ông Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy ban giám sát tài chính quốc gia, về sự điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ những cái được và mất, đặc biệt kể từ khi Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 đi vào thực tiễn.
Bức tranh kinh tế Việt Nam sáu tháng đầu năm 2011 đã có nhiều gam mầu khác nhau, ở hầu hết các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, ông có nhìn nhận thế nào về điều này ?
Trong 6 tháng đầu năm 2011, nền kinh tế toàn thế giới đã có mức tăng trưởng chậm lại. Song song với đó, cục diện nền kinh tế thế giới cũng có nhiều chuyển biến tiềm ẩn nhiều rủi ro trước bối cảnh lạm phát tăng cao, thị trường tài chính có nhiều biến động, như tình trạng nợ công ở châu Âu diễn biến phức tạp trở lại, bất ổn chính trị gia tăng. Trong bối cảnh toàn cầu hóa đó, với một nền kinh tế mới nổi như Việt Nam, với độ mở lớn, VN không tránh khỏi chịu tác động bởi những diễn biến phức tạp của môi trường kinh tế thế giới. Nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua đã cho thấy sức bật trong nước đã chậm lại, và tiểm ẩn nhiều rủi ro. Theo số liệu thống kê, GDP 6 tháng năm 2011 tăng 5,6% thấp hơn so với mức 6,16% của năm 2010, chỉ số giá tiêu dùng 6 tháng tăng 13,29% (trong khi 6 tháng đầu năm 2010 là 4,7%). Tình trạng nhập siêu cũng vẫn ở mức tăng cao 6,7 tỷ USD tương đương 19% tổng kim ngạch xuất khẩu và có xu hướng tăng ở các tháng. Riêng lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài, vốn FDI, thực hiện đã giảm -1,9% so với cùng kỳ năm 2010. Trong bối cảnh đó, theo tôi sự ra đời Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/2/2011, là một trong giải pháp quyết liệt và căn cơ của Chính phủ Việt Nam, quyết tâm chống lại sự bất ổn nền kinh tế trong nước cũng như, tạo một hàng rào pháp lý, hành chính mạnh mẽ không để các yếu tố bất lợi của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới chi phối.
Riêng về lĩnh vực tài chính – tiền tệ, theo ông, Chính phủ VN đã làm tròn vai trò là nhà điều tiết tổng thể ?
Nhận thức được sâu sắc tình hình chuyển biến tiềm ẩn nhiều rủi ro, ngay từ những tháng đầu năm 2011, Chính phủ Việt Nam đã giao cho các cơ quan quản lý đầu mối về chính sách tiền tệ quốc gia có các biện pháp nhằm thực hiện chính sách tiền tệ chủ động, chặt chẽ nhằm thực hiện cho được mục tiêu kiểm soát tốc độ tăng tín dụng dưới 20%, tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 15-16%, lãi suất và tỷ giá ở mức hợp lý, phù hợp với điều kiện vĩ mô. Đồng thời, tập trung ưu tiên vốn tín dụng phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh, nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đặc biệt, giảm tỉ trọng vay vốn tín dụng trong lĩnh vực phi sản xuất. Tuy rằng, các mục tiêu Chính phủ giao cho hệ thống tài chính quốc gia là rất chi tiết và cụ thể, song thực tế trong thời gian 6 tháng thực hiện vừa qua, nền kinh tế vĩ mô Việt Nam vẫn còn gặp phải một số bất ổn nhất định và nếu không được giải quyết triệt để, cương quyết sẽ rất có thể dẫn đến các hệ lụy sau này.
Song dưới con mắt của các chuyên gia kinh tế quốc tế, nền kinh tế Việt Nam vẫn ghi điểm, phải chăng là hệ thống các cơ quan tài chính quốc gia cũng đã làm những phần việc nhất định ?
Theo tôi cũng phải nghi nhận sự cố gắng lớn từ phía các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực này, cụ thể là từ Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Trong bối cảnh khó khăn đó, Ngân hàng nhà nước đã chủ động ban hành nhiều giải pháp nghiệp vụ chuyên môn sâu để cụ thể hóa và đáp ứng nhiệm vụ mà Chính phủ giao. Thực hiện hàng lọat các biện pháp mạnh tay như: Điều hành linh họat các công cụ chính sách tiền tệ, đảm bảo khả năng thanh toán, hỗ trợ tích cực vốn thanh khoản cho các tổ chức tín dụng, ổn định thị trường tiền tệ trong dài hạn. Cụ thể, đã điều chỉnh tăng 3% tỷ lệ dữ trữ bắt buộc tiền gửi bằng ngoại tệ, điều hành linh họat nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất điều chỉnh tăng dần ở mức 10, 10,5, 11, 12, 13, 14, 15% năm… Ngoài ra, có sự điều chỉnh cơ cấu tín dụng tập trung cho sản xuất nông nghiệp, nông thôn, ban hành chỉ thị 01/CT-NHNN ngày 1/3/2011 yêu cầu các TCTD điều chính kế hoạch kinh doanh cho phù hợp với mục tiêu tăng trưởng tín dụng dưới 20%. Do đó, sức bật của hệ thống tài chính quốc gia đã dần ổn định và hiệu qủa hơn. Theo đó, tính đến ngày 20/6/2011, tổng phương tiện thanh toán tăng 2,54%, cơ cấu tín dụng phù hợp với mục tiêu của Chính phủ cơ bản đáp ứng được nhu cầu cho vay của doanh nghiệp. Đó chính là những con số biết nói, thể hiện sự nỗ lực cao nhất của hệ thống tài chính quốc gia góp phẩn ổn định nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong thời gian qua.
Ông nói đến sự tập trung vốn cho khu vực sản xuất nông nghiệp, nông thôn, vậy đây có phải là một hướng chuyển mới, để giúp nền kinh tế Việt Nam phát triển bền vững trong dài hạn ?
Lịch sử đã chứng minh, nền kinh tế Việt Nam đã rất nhiều lần gặp phải những bất ổn, song cuối cùng ngành nông nghiệp với những tiềm lực dồi dào, mạnh mẽ đã giúp nền kinh tế trụ vững và vượt qua những thách thức của thời đại. Đến thời điểm hiện nay, Việt Nam đã được bạn bè quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia có nền nông nghiệp phát triển hàng đầu trên thế giới với các sản phẩm đặc sản như lúa gạo, cà phê, hồ tiêu, cá tra, cá ba sa… Việt Nam hiện có thừa các thuận lợi phát triển ngành nông nghiệp như: vị trí địa lý, năng suất lao động, kinh nghiệm thâm canh, canh tác. Tuy nhiên, phát triển thuần túy thôi chưa đủ, mà VN cần tiến tới mục tiêu phát triển bền vững. Nhiều bài toán cũng đang đặt ra cho ngành như: VN cần phát triển nông nghiệp theo hướng tăng giá trị đầu tư cho khâu thành phầm, còn việc chạy theo số lượng như từ trước đến nay hiệu quả kinh tế còn quá thấp. Có thể dẫn chứng câu chuyện của hai mặt hàng chủ lực về vấn đề này là trường hợp của hạt cà phê (hiện VN vẫn xuất khẩu thô đến 80%), tương tự là tình trạng của lúa gạo, vẫn biết Việt Nam là quốc gia đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo, song giá để hạt gạo có chất lượng giá trị thương phẩm cao vẫn là một yếu điểm.
Vậy theo ông, tình hình kinh tế sẽ có sự dịch chuyển thế nào trong thời gian từ nay đến cuối năm ?
Bám sát sự chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết 11/NQ-CP, hệ thống tài chính quốc gia sẽ tiếp tục sẽ có các chính sách thắt chặt tiền tệ, thận trọng trong kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2011 ở mức dưới 20%. Trong thời gian tới sẽ quyết liệt giảm dần tốc độ và tỷ trọng cho vay trong lĩnh vực phi sản xuất trong tổng dư nợ theo lộ trình đến 30/6/2011 là 22% và đến 31/12/2011 là 16%. Về các chỉ số kinh tế xã hội quan trọng khác như chỉ số CPI ở một số tháng nhất định tuy có dấu hiệu giảm song tính trong gộp các tháng từ đầu năm đến nay vẫn tăng cao. Do vậy từ nay đến cuối năm các cơ quan chức năng liên quan cần nghiêm túc thực hiện sự giám sát, điều hành quyết liệt hơn.
Xin cám ơn ông !
Anh Phương