Cần nhân rộng quy mô áp dụng Thỏa ước lao động tập thể

09:26:40 | 8/8/2011

Sau khi Thỏa ước lao động tập thể được sửa đổi và ban hành, nhiều DN trong nước đã hưởng ứng tích cực và đạt được kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là, liệu có phải tất cả các DN đều làm được như vậy không? Bởi lẽ, thành phần tham gia Thỏa ước phần lớn là các DN nhà nước cổ phần hóa, còn các DN tư nhân, liên doanh, đầu tư nước ngoài tham gia rất ít.

Giúp cân đối hài hòa

Theo ông Nguyễn Tùng Vân- Chủ tịch Công đoàn dệt may Việt Nam, sau khi tham gia thỏa ước lao động tập thể cả nhận thức của người lao động và DN đều được nâng lên. DN đã nhận thức rõ người lao động là “tài sản” quý của DN, còn người lao động thì nắm tương đối rõ quyền và lợi ích của mình.

Quan trọng hơn, dựa trên kết quả khảo sát cho thấy, khi Thỏa ước lao động tập thể lần thứ 2 được sửa đổi, bổ sung và áp dụng đối với một số DN thì đã bước đầu hình thành được thị trường giá cả sức lao động trong nhiều lĩnh vực như dệt may, da giày, thủy sản…Thỏa ước lao động đã khiến các DN nhận thấy được sức ép nếu trả lương không tương xứng với công sức của người lao động thì sẽ không duy trì, phát triển được nguồn lao động, xấu hơn là dẫn đến đình công, lãn công...

Theo khẳng định của ông Phạm Minh Huân- Thứ trưởng Bộ LĐ& TBXH, kết quả đáng ghi nhận hơn cả là có những việc Thỏa ước không quy định nhưng đã được nhiều DN thực hiện để tăng quyền lợi cho người lao động. Đây là những việc làm thể hiện văn hóa, ý thức, tầm nhìn của các DN đối với sự phát triển nguồn lao động một cách bền vững- ông Huân nói.

Hơn nữa, trong Thỏa ước còn có sự điều chỉnh tăng mức thu nhập tối thiểu bình quân đối với người lao động là công nhân nếu làm việc đầy đủ theo thời gian, làm việc tiêu chuẩn và đảm bảo định mức lao động, chất lượng sản phẩm, thu nhập bình quân của công nhân tối thiểu là 1,95 triệu đồng/người/tháng đối với vùng 1; vùng 2 là 1,85 triệu đồng/người/tháng; vùng 3 là 1,75 triệu đồng/người/tháng và vùng 4 là 1,55 triệu đồng/người/tháng. Những quy định này phần nào đã giúp đảm bảo “cơ chế lương” thích đáng hơn cho sức lao động bỏ ra của người lao động.

Cũng theo định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm, căn cứ vào tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và chỉ số giá tiêu dùng do Tổng cục Thống kê công bố, DN và đại diện người lao động còn phải xem xét thỏa thuận điều chỉnh để tăng các chế độ ăn giữa ca và thu nhập bình quân tối thiểu cho phù hợp. Đối với các DN đã đạt được mức cao hơn các chế độ quy định trong Thỏa ước tại thời điểm ký kết thì người sử dụng lao động phải bảo đảm tối thiểu bằng các mức đó.

Theo nhận định của một số chuyên gia, tất cả các quy định trong Thỏa ước lao động tập thể lần thứ 2 đều tạo thuận lợi cho người lao động, họ được bảo vệ quyền lợi khá tốt từ mức tiền lương tối thiểu cho tới chế độ ưu đãi và ăn uống… tất cả quy định này đều tạo cho người lao động miền tin để họ gắn bó lâu dài với DN. Ngược lại, cũng là một ràng buộc pháp lý đối với các DN. Có thể nói, những quy định trong Thỏa ước lao động lần này đã cơ bản cân đối hài hòa được lợi ích của giới sử dụng lao động và người lao động.

Nhân rộng đối tượng tham gia

Ông Trần Văn Phổ- Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty may Hòa Thọ cho biết, trong những năm qua bản thân các DN trong nước không xảy ra đình công, lãn công về tiền lương mà các vụ đình công chủ yếu xảy ra ở DN nước ngoài và tư nhân. Vì cứ đến thời điểm quy định là các DN tham gia thỏa ước lao động tập thể thuộc Tập đoàn vẫn giữ được chế độ bảo hiểm y tế, xã hội, duy trì được chế độ thì nâng bậc lương hàng năm. Còn đối với các DN đầu tư nước ngoài, tư nhân thì họ lại không biết đến điều này mà đơn giản chỉ là trả lương bình quân theo đúng luật là xong. Đây là vấn đề mà các cơ quan quản lý nhà nước, quản lý ngành cần có giải pháp để yêu cầu họ đi vào đúng một quy pháp bình đẳng với các DN trong nước- ông Phổ nói.

Mặt khác, để thỏa ước lao động tập thể lần thứ 2 thật sự đi vào hoạt động hiệu quả, phát huy tác dụng góp phần tạo mặt bằng tối thiểu về điều kiện lao động và giá cả sức lao động, theo ông Võ Trí Thành- Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu kinh tế Trung ương cho rằng, cần xây dựng kế hoạch mở rộng đối tượng tham gia Thỏa ước, trước mắt, phải mở rộng đến các DN còn lại trong các Tập đoàn nhà nước, sau đó, có kế hoạch tuyên truyền thu hút các DN tư nhân, DN có vốn đầu tư nước ngoài tham gia.

Bên cạnh đó, VN nên có chính sách ưu đãi chung với các DN, không chỉ áp dụng riêng cho các DN vừa và nhỏ. Ví dụ, chính sách thuế hiện chỉ áp dụng đối với DN vừa và nhỏ nhưng thực tế, tiềm năng phát triển của các DN này rất thấp, hầu hết đều phải đóng cửa khi gặp khó khăn và không giải quyết được chế độ thất nghiệp cho người lao động. ,

Hơn nữa, theo ông Lê Đăng Doanh- Nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu kinh tế Trung ương, trong triển khai Thỏa ước, cần nâng cao, phát huy hơn nữa vai trò của Công đoàn vì thời gian qua vai trò của Công đoàn còn yếu. Công đoàn phải sát DN, xuống tận DN để nắm bắt, chia sẻ khó khăn, áp lực của DN. Đồng thời, tích cực tuyên truyền, biểu dương, nhân rộng các mô hình tốt như các DN xây dựng được cả nhà trẻ, trường học, y tế; tổ chức khám sức khỏe định kỳ và điều trị bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Để làm được điều này thì cần có sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước như Bộ Công Thương, Bộ tài chính, Bộ LĐTB& XH, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam.

Lưu Hiệp