11:28:32 | 9/8/2011
Nước ta là một quốc gia rất nghèo tài nguyên vàng. Là nước có lịch sử nhập, chứ không phải là xuất vàng, vì vậy, về quan điểm chính sách, Chính phủ nên cho mở rộng diện phải nộp thuế xuất khẩu vàng đối với tất cả các loại, không phân biệt vàng nữ trang hay vàng thỏi, vừa để tăng thu cho ngân sách Nhà nước (NSNN), vừa tạo bình đẳng và vừa khống chế và không khuyến khích việc xuất vàng từ một quốc gia hầu như không có công nghiệp khai thác hay mỏ vàng ở quy mô đáng kể như nước ta.
Từ sau khi chế độ tiền bản vị vàng sụp đổ năm 1971, hầu hết các đồng tiền khác nhau trên thế giới đều là tiền pháp định theo cơ chế vận hành NHTW của từng quốc gia. Tuy không còn giữ vai trò là tiền trực tiếp hay vật đảm bảo hàm kim lượng cho tiền giấy pháp định nữa, song vàng vẫn là loại vật chất quý, giữ vai trò dự trữ song song với ngoại tệ mạnh và/hoặc bao gồm cả trái phiếu Chính phủ nước khác trong kho dự trữ ngoại hối quốc gia của nhiều nước đặt tại NHTW. Vàng do đó trở thành “hầm trú ẩn” của sức mua của tiền giấy mà các Chính phủ tỏ ra gương mẫu áp dụng nhất.
Trong thập niên 1990, hầu hết các quốc gia châu Âu đã mua tích trữ vàng để chuẩn bị cho Liên minh tiền tệ và Kinh tế Châu Âu mà thực chất là để phòng rủi ro “niềm tin” về đồng tiền chung EURO sẽ ra đời năm 1999. Ngoài châu Âu, dự trữ vàng với lượng đáng kể tại nhiều nước khác trên thế giới luôn được coi là một giải pháp và công cụ để bảo vệ đồng tiền của họ tránh ràng buộc vào đồng đôla Mỹ. Vàng trang sức và vàng thỏi từ khi vàng không còn là tiền trực tiếp vẫn luôn luôn là loại hàng hoá được mua bán rộng rãi tại các thị trường có tính thanh khoản cao, và do đó vẫn là hình thức cất giữ tài sản không chỉ của quốc gia mà cả của tổ chức và cá nhân một cách phổ biến.
Những năm cuối của Thời kỳ khủng hoảng giá hàng hóa (1980-2000 và hơn hai năm nay sau khủng hoảng tài chính và suy thoái toàn cầu 2008) cũng đã ảnh hưởng đến vàng, giá vàng đã tăng vượt mức giao dịch kỳ hạn gần như thành một xu hướng trong vòng 20 năm nay. Thực tế này dẫn đến hậu quả là cứ mỗi khi tiền giấy bị đe dọa giảm sức mua thì các tổ chức và cá nhân lại sử dụng vàng để giữ giá trị sản tài chính của họ, dẫu vậy, không có nghĩa là thế giới có thể sẽ quay trở lại bản vị vàng, vì không thể đào đâu ra vàng vật chất so với tổng giá trị hàng hoá khổng lồ của hành tinh này.

Trong thực tiễn ta có thể thấy vàng hiện tại không được phân phối theo sức mạnh kinh tế giữa các quốc gia. Ví dụ như Nhật Bản là một trong những nền kinh tế lớn và mạnh nhất trong Top G7 thế giới, lại có dự trữ vàng ít hơn rất nhiều so với mức cần thiết để hỗ trợ nền kinh tế này (3,1% dự trữ ngoại hối, xem bảng dưới). Ngược lại, mặc dù đứng ở thứ hạng cao trong bảng thống kê lượng vàng dự trữ của Top 20 quốc gia có lượng dự trữ vàng lớn nhất thế giới, nhưng các nước như Đức, Italiy, Pháp, Thụy Sĩ…hầu như không ảnh hưởng tới thị trường vàng nhiều như 4 nước: Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ và Nga. Những thông tin về động thái mua vào hay bán ra từ 4 quốc gia này luôn tác động làm thay đổi xu hướng giá của vàng. Thời gian này, 4 nước đồng loạt tăng mạnh mua vào vàng, làm cho giá vàng đang tăng. Những ngày gần đây khi vấn đề khủng hoảng nợ công có nguy cơ lan tràn khắp trời Âu, về xu hướng bán nợ công cho tư nhân và nợ công đã “kịch trần” ở Mỹ nhưng Quốc Hội Mỹ vẫn kiên quyết không “đục trần”…đã làm cho giá vàng liên tục thiết lập các kỷ lục mới sau ngưỡng 1.550, rồi trên 1600 USD/ounce (1ounce=0,829426 lượng/hoặc cây). Tình hình này sẽ còn xấu hơn! Tại bang Utah của Mỹ, do đồng USD liên tục mất giá nên vào tháng 6/2011 vừa qua đã xuất hiện một nhà thầu mang tên Craig Franco đã được Chính quyền cho phép thành lập kho quản lý vàng - bạc, giúp người dân đem tiền USD kim loại bằng vàng hoặc bạc thật đến gửi và nhận lại bằng thẻ ghi nợ theo giá thị trường thời điểm gửi vàng/bạc để có thể mua sắm, thanh toán các khoản chi tiêu bình thường bằng thẻ ghi nợ này. Tại 12/50 bang khác của Mỹ cũng đang soạn dự thảo luật “bắt chước” bang Utah để tỏ thái độ phản đối đương kim Tổng thống Barack Obama có những biện pháp tài chính tiêu cực khiến USD mất giá, trong đó có việc FED liên tục in, “bơm” thêm một lượng tiền lớn ra thị trường không dựa trên một nguồn tài sản xác thực cụ thể nào. Tuy chưa phải là luật chính thức và trên thực tế vàng vẫn bị cấm sử dụng để thanh toán hàng hoá, dịch vụ như tiền ở hầu hết các quốc gia sau 1971 là thời điểm sụp đổ chế độ bản vị vàng, song với tư cách là tài sản tài chính có tính thanh khoản cao, vàng luôn luôn có một quyền năng tự nó rất mạnh để thách thức các cỗ máy bơm tiền một cách thiếu căn cứ.
Trong tháng 5/2011, nhu cầu vàng của Ấn Độ tăng 25% khiến giá trị nhập khẩu tăng 500% so với tháng trước và tăng 222% so với cùng kỳ năm 2010, làm cho giá trị nhập khẩu vàng tại nước tiêu dùng vàng lớn nhất thế giới này tăng lên mức kỷ lục: 8,96 tỷ USD.
Trung Quốc cũng tăng cường nhập khẩu vàng, trong 2 tháng đầu năm 2011, nhập khẩu vàng của Trung Quốc đạt 200 tấn, bằng 2/3 khối lượng vàng nhập trong cả năm 2010. Hội đồng vàng thế giới nhận định đầu tư vàng của Trung Quốc có thể tăng 40 - 50% trong năm nay. Tiêu thụ vàng tại Trung Quốc và Ấn Độ chiếm tới 40% tổng cầu thế giới.
Trong tháng 3, Ngân hàng Trung ương Nga mua thêm 11,8 tấn vàng, đưa tổng lượng vàng dự trữ lên 811,1 tấn vào 31/3/2011.
Giá vàng trong nước luôn phụ thuộc giá vàng thế giới tính bằng ngoại tệ và phụ thuộc vào tỷ giá tính bằng bản tệ. Từ đầu năm đến nay, xu hướng chung là giá vàng thế giới tăng mạnh hơn giá trong nước chủ yếu do tỷ giá trong nước khá ổn định. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, kim ngạch xuất khẩu đá quý, kim loại quý và sản phẩm vàng chế tác tháng 6 đạt trên 12 tấn, đạt 630 triệu USD, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu vàng từ đầu năm lên 1,027 tỷ USD. Từ 1/1 năm nay, các sản phẩm kim hoàn, kỹ nghệ có hàm lượng vàng trên 99% đều bị đánh thuế xuất khẩu 10% thay vì mức 0% như trước. Vì vậy, đa số là nữ trang hàm lượng vàng dưới 99%. Tính chung từ đầu năm đến 15/6, khoảng 20 tấn nữ trang dạng hàm lượng vàng dưới 99% đã được xuất đi.Tuy nhiên, tình hình sẽ đảo chiều khi các đơn vị kinh doanh chạy đua hút vàng để xuất khẩu cộng với vàng thế giới tăng, giá vàng trong nước sẽ tiếp tục tăng. Hiện giá vàng trong nước đã đuổi kịp và có thể sẽ vượt tốc độ tăng của giá vàng thế giới, làm cho đơn giá thực đã cao hơn giá thế giới ngay khi tỷ giá vẫn chưa kịp tác động xấu vào giá vàng. Tới đây có thể là xu hướng nhập vàng vào, sẽ gây sức ép tỷ giá và cán cân thanh toán. Tuy vậy, tôi cho rằng trong quan điểm quản lý cũng không nên huyền bí hoá kim loại quý này. Chỉ nên coi vàng là một loại hàng hoá có nhiều phẩm chất là tài sản tài chính của xã hội. Sự lên xuống của giá vàng luôn luôn cùng lúc chịu 2 nhóm nhân tố tác động chính, đó là quan hệ giữa nguồn cung của chính nó với cầu của xã hội về vàng bởi chính giá trị và giá trị sử dụng của nó và hai là do nhân tố huyền bí hoá vai trò của vàng mà làm cho ngay cả giá vàng cũng bị đẩy lên một cách vô tình hoặc hữu ý ngoài nhân tố nội tại về cung cầu của chính nó. Để ý rằng sản lượng vàng của các tập đoàn khai mỏ vàng lớn nhất thế giới ở 4 quốc gia là: Nam Phi, Australia, miền Tây nước Mỹ và Trung Quốc đang giảm xuống. Trong khi đó, các ngân hàng trung ương, các quỹ lương hưu và các nhà đầu tư cá nhân đang tìm đến vàng ngày càng có chiều hướng gia tăng, nhất là trong tình hình xấu về nợ nần ở châu Âu và trần nợ ở Mỹ hiện nay. Nhưng động thái giá vàng tăng thời gian này vẫn là do niềm tin vào đồng tiền bị giảm, bị phá giá hơn là do giá trị thực của vàng tăng.
Cùng với chống ngoại tệ hoá (thường gọi chung là Đô la hoá), cần phải kiên quyết chống vàng hoá phương tiện thanh toán. Nghĩa là không đa dạng hoá, không huyền bí hoá các công dụng của vàng trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ. Trước sau chỉ coi vàng như một hàng hoá được rộng rãi giao lưu bình thường theo luật pháp. Nhà nước cần có chính sách tuyệt đối không cho phép huy động hay cho vay vàng như một loại nghiệp vụ tín dụng trong các định chế tài chính nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng. Cấm không sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán hàng hoá, dịch vụ nội địa như tiền.
Do tính chất dễ dát mỏng hay dễ nung chảy đúc thành miếng, thành thỏi và hoặc các biến dạng khác nhau… nên Nhà nước cần quy định tiêu chuẩn quốc gia đồng thời phù hợp tiêu chuẩn quốc tế về vàng thỏi gồm: khối lượng, hình thức, kích cỡ, Logo, tỷ trọng nguyên chất (không thấp hơn 99,5% vàng nguyên chất) để cấp phép và kiểm soát chặt chẽ cơ sở đúc vàng đúng các thông số kỹ thuật theo tiêu chuẩn và chỉ có cơ sở nào được phép của NHNN thì mới được đúc vàng thỏi tiêu chuẩn.
Không nên hạn chế đối tượng kinh doanh vàng, nhưng cần hạn chế và kiểm soát thật nghiêm ngặt đơn vị được phép đúc vàng thỏi tiêu chuẩn. Không chấp nhận bất kỳ loại vàng thỏi nào được phép bán trên thị trường ngoài các nhãn thỏi vàng đã được NHNN phê chuẩn, cấp phép sản xuất từng thời kỳ. Khối lượng vàng thỏi tiêu chuẩn cần sớm thu gọn lại, chỉ nên gồm các loại có trọng lượng chuẩn từ 01 kg đến 10 kg (1kg=26,6666cây; 1 tấn = 26.666,666 cây, theo chuẩn quốc tế) và khuyến khích sản xuất loại có trọng lượng cao trong khung đó.
Rất cần mở sàn vàng tạo ra chợ giao dịch tập trung cho các nhà kinh doanh vàng mang nhiều quốc tịch khác nhau tự do tham gia buôn bán và làm nghĩa vụ sòng phẳng với Nhà nước. Thuế xuất khẩu vàng đánh theo tuổi vàng mà không miễn cho bất kỳ loại nào. Khuyến khích và kiểm soát tỷ trọng cao vàng vật chất trong tổng giá trị giao dịch vàng trên sàn. Từng bước cho phát triển các loại giao dịch phái sinh gắn liền với sàn giao dịch vàng. Nên xoá cơ chế giấy phép nhập vàng, nhưng phải chứng minh nguồn ngoại tệ khả thi, hợp pháp dùng để nhập vàng. Sàn vàng phải do NHTW quản lý.
TS - Nguyễn Đại Lai