Nguy cơ cạn kiệt của tài nguyên nước

10:13:28 | 13/10/2011

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam không phải là quốc gia mạnh về tài nguyên nước bởi hơn 60% lượng nước bề mặt ở Việt Nam có nguồn gốc từ các nước khác. Dù Chính phủ Việt Nam đã có nhiều nỗ lực nhưng khoảng một nửa dân số Việt Nam vẫn chưa có đủ nước sinh hoạt. Những vấn đề nảy sinh từ biến đổi khí hậu cũng tác động đến tài nguyên nước Việt Nam, làm gia tăng thách thức vốn đã rất nghiêm trọng.

Báo cáo đánh giá ngành nước Việt Nam cho thấy, tổng lượng nước mặt hằng năm của Việt Nam vượt tiêu chuẩn quốc tế, nhưng không đều giữa các mùa. Mùa khô kéo dài và khắc nghiệt, lượng nước chỉ bằng khoảng 30% lượng nước của cả năm. Vào thời điểm này, khoảng một nửa trong số 16 lưu vực sông chính bị thiếu nước - bất thường.Trên thực tế, tính trung bình, mỗi người Việt Nam có thể nhận 9.650m3 nước/năm trong khi mức trung bình thế giới là 7.400m3. Tuy nhiên, xét về nguồn nước nội địa, Việt Nam chỉ đạt mức trung bình kém của thế giới với 3.600m3/người/năm, ít hơn mức bình quân toàn cầu (4.000m3/người/năm). Nếu tính theo tiêu chí nguồn nước nội địa, Việt Nam thuộc diện quốc gia thiếu nước vì 63% tổng tài nguyên nước mặt là ngoại lai. Cụ thể ở lưu vực sông Hồng, nguồn nước ngoại lai chiếm 50% tổng khối lượng nước bề mặt, còn ở lưu vực sông Cửu Long, con số này là 90% nên không thể chủ động bảo vệ, khai thác và sử dụng nguồn nước.

Không chỉ suy thoái, tài nguyên nước còn ô nhiễm nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân. Tại Hà Nội, mỗi ngày thành phố thải ra khoảng 300.000 - 400.000m3 nước thải không qua xử lý hoặc chỉ được xử lý sơ bộ trước khi xả vào tuyến thoát nước chung, nồng độ chất ô nhiễm ở một số điểm xả rất cao. Ở TP Hồ Chí Minh, riêng lượng nước thải công nghiệp xả ra môi trường mỗi ngày là 400.000m3. Một số ngành công nghiệp hóa chất, phân bón, khai thác khoáng sản có lượng nước thải lớn, chứa nhiều chất độc hại được thải trực tiếp ra các sông, ao, hồ, kênh, rạch nên đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở thượng nguồn.

Tài nguyên nước Việt Nam đang bị suy thoái còn do khai thác và sử dụng thiếu bền vững. Các sông nhỏ trong nội đô của các thành phố bị ô nhiễm nặng do nước thải sinh hoạt, công nghiệp. Các đập thuỷ điện tạo ra khúc sông “chết” dưới hạ lưu đập, tàn phá môi trường thủy sinh. Bên cạnh đó, sự biến đổi khí hậu toàn cầu đang và sẽ tác động không nhỏ đến tài nguyên nước. Nhưng hiện đang có trên 30% cộng đồng dân cư không biết làm gì để bảo vệ sông ngòi.

Theo các nhà khoa học, trong thời gian tới, sự gia tăng dân số và sự phát triển kinh tế - xã hội sẽ làm tăng mạnh nhu cầu dùng nước và tác động mạnh mẽ đến tài nguyên nước. Khan hiếm và thiếu nước là mối đe dọa rất nghiêm trọng đối với sự tồn tại của con người trong tương lai, do đó cần có các giải pháp quản lý khai thác bền vững tài nguyên nước: Hạn chế và giảm thiểu suy thoái tài nguyên nước do biến đổi khí hậu toàn cầu; Cải thiện, nâng cấp và mở rộng các hệ thống thoát lũ, tiêu úng…; Nhà nước sớm ban hành đầy đủ đồng bộ những văn bản dưới Luật hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường và các Luật có liên quan đến tài nguyên nước; Đầu tư nghiên cứu kiểm kê đánh giá và qui hoạch dự báo dài hạn tài nguyên nước. Bên cạnh đó cũng rất quan trọng việc dự báo theo mùa, năm và nhiều năm về nguồn nước, thiên tai, lũ lụt, hạn hán đi kèm với hiện tượng La Nina, El Nino... để có kế hoạch sử dụng hợp lý và an toàn nguồn nước.

Tuy nhiên, quan trọng nhất vẫn là ý thức của mỗi người dân về bảo vệ và khai thác tài nguyên nước hợp lý. Việt Nam phải tạo được phong trào phục hồi các dòng sông được bắt nguồn từ chính những người dân, đến các cấp chính quyền cùng các tổ chức xã hội.

Đỗ Ngọc