09:02:33 | 31/10/2011
Trước khi Quốc Hội Việt Nam nhóm họp, một hội thảo quốc tế về “Quản lý nợ công và nợ nước ngoài quốc gia” đã được tổ chức tại Hà Nội. Không thống nhất ngay từ cách tính nợ công, nên đánh giá chung về mức độ an toàn của nợ công đối với nền kinh tế cũng khác nhau.
Khác biệt dẫn đến chênh lệch
Sự khác biệt trong cách tính tỷ lệ nợ công/GDP của Chính Phủ Việt nam với các Tổ chức tài chính quốc tế đã kéo dài từ nhiều năm nay. Năm 2009 Việt Nam công bố tỷ lệ nợ công của mình là 41% trong khi Ngân hàng Thế giới (WB) khẳng định là 47%. Mấy năm liên tiếp Việt nam vẫn giữ nguyên cách đánh giá của mình và sự chênh lệch về số liệu vẫn tiếp tục diễn ra. Mới đây nhất, ông Nguyễn Thành Đô - Cục trưởng cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại, Bộ Tài chính cho biết: cơ cấu nợ công của Việt Nam gồm: nợ chính phủ chiếm 80%, nợ chính phủ bảo lãnh doanh nghiệp chiếm 19%, nợ của chính quyền địa phương chiếm 1% còn lại. So với GDP, nợ công tương đương với 57,3%, nợ chính phủ tương đương 45%, nợ chính phủ bảo lãnh 13%, và nợ của chính quyền địa phương 3% tính đến cuối năm 2010. Dự kiến trong năm 2011, nợ công bao gồm cả vay nước ngoài lẫn trong nước sẽ lên đến mức 1.375 tỉ đồng, tương đương 58,7% GDP.

Được tính kể từ khi Luật Quản lý nợ công 2009 có hiệu lực; cơ cấu nợ công của Việt Nam bao gồm: nợ của Chính phủ; nợ của các doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh và nợ của các địa phương. Một thực tế là kể từ khi có Luật Quản nợ công, Việt Nam vẫn chưa định ra tiêu chí về ngưỡng an toàn của nợ công. Hiện chỉ có ngưỡng tối đa nợ công hàng năm, được quyết tại các kỳ họp Quốc Hội.
Trong khi đó, theo thông lệ quốc tế thì nợ công của Việt Nam cao hơn rất nhiều. Sự chênh lệch này xuất phát từ cáh tính gộp cả nợ của doanh nghiệp vay vốn nước ngoài vào nợ công. Cũng xuất phát từ cách tính này mà hồi tháng 8 năm nay, hãng định mức tín nhiệm Standar & Poor’s hạ một bậc điểm tín nhiệm nợ công Việt Nam từ BB xuống BB-, mức thấp nhất so với các nước Đông Nam Á, còn hãng đánh giá tín dụng toàn cầu Fitch Ratings nợ bằng tiền đồng và ngoại tệ của Việt Nam có mức khả tín B+. Đây là mức ngang với Mông Cổ và Venezuela nhưng thua Philippines và Indonesia (10); nợ công Việt Nam vượt ngưỡng 50% GDP là cao hơn mức trung bình 37% đối với hạng B (11).
Rủi ro và lo ngại
Mặc dù Chính phủ khẳng định tỷ lệ nợ công Việt Nam vẫn ở ngưỡng an toàn, còn thấp so với 60%/GDP theo thông lệ quốc tế. Tuy nhiên tỷ lệ nợ công vừa được công bố vẫn dấy lên nỗi lo lắng xuất phát từ cách điều hành và thực trạng nền kinh tế. Trong buổi thảo luận của Quốc hội về nợ công, một số đại biểu Quốc hội đã rất lo lắng khi tính toán rằng: so với GDP, nợ nước ngoài của Việt Nam chiếm 42,2%, trong khi năm 2009 mới là 39% và đây là mức tăng cao nhất kể từ năm 2006. Tính ra từ năm 2007 đến cuối năm 2011, nợ công của Việt Nam đã tăng khoảng 25% ( trung bình 5%/năm). Với khoản nợ này, căn cứ vào thời điểm đáo hạn thì từ nay đến 2015 mỗi năm Việt Nam phải trả nợ gốc và lãi cho nước ngoài gần 1,5 tỉ USD và mức trả nợ cao nhất sẽ rơi vào năm 2020 với con số lên đến 2,4 tỉ USD. Trong khi đó nền kinh tế vẫn chưa vượt qua khó khăn do các biện pháp kiềm chế lạm phát vẫn chưa phát huy tác dụng.
Những rủi ro nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt khi gánh khoản nợ công ‘khổng lồ” này, đã được các chuyên gia kinh tế trong nước chỉ ra, gồm: Thứ nhất: Nguồn dự trữ ngoại tệ, trong đó phần được dành để trả nợ nước ngoài - theo thống kê của Bộ Tài chính là rất khiêm tốn; Thứ 2: xu hướng mất giá của đồng tiền Việt Nam sẽ khiến các khoản nợ sẽ ngày càng phình to ra bởi vì tất cả các khaonr vay đều bằng ngoại tệ; Thứ 3: do đã trở thành nước có thu nhập trung bình nên lãi suất vay không còn hưởng chế độ ưu tiên của các nhà tài trợ như lâu nay; trong khi thực tế thì Việt Nam mới đang đang ở mức đầu tiên của khối thu nhập trung bình; thu nhập thực tế của người dân mới đạt trên 1000 USD nhưng vẫn thuộc nhóm nước có thu nhập thấp nhất ở Châu Á.
Bên cạnh đó còn là những bất ổn từ nội tại của nền kinh tế vĩ mô Việt Nam như: lạm phát cao, sử dụng nguồn vốn kém hiệu quả, tham nhũng... cũng khiến các chuyên gia kinh tế lo ngại và các nhà quản lý phải tính toán kỹ hơn trong hoạch định chính sách và điều hành.
Đỗ Ngọc