06:38:21 | 30/3/2012
Mỗi năm Hà Nội đầu tư kinh phí để phát triển các làng nghề với con số không phải nhỏ. Thế nhưng, các làng nghề lại đang tồn tại rất “èo uột” và có nguy cơ bị mai một.
Từ phân tích của ông Alain Chevalier - chuyên gia nghiên cứu của Pháp về phát triển làng nghề cho thấy, vùng ven đô Hà Nội là nơi tập trung nhiều làng nghề thủ công mỹ nghệ nhất cả nước, với đủ loại ngành nghề khác nhau như: sơn mài, gốm, sứ, chạm khắc gỗ, đan lát, thêu ren, dệt… Hiện tại, TP cũng đã xây dựng và phê duyệt đề án “Bảo tồn và phát triển nghề, làng nghề Hà Nội” giai đoạn 2010- 2015 với nguồn vốn đầu tư 3620 tỉ đồng.

Hà Nội hiện có 1.270 làng nghề, chiếm 62% tổng số làng nghề của cả nước, tập trung ở một số huyện: Phú Xuyên (125 làng), Thường Tín (120 làng), Chương Mỹ (174 làng), Ứng Hòa (113 làng)…, góp phần giải quyết việc làm cho 627.000 lao động với thu nhập bình quân 700.000 đồng/người/tháng.
Khó chồng khó
Từ khi triển khai đề án Bảo tồn và phát triển nghề, làng nghề Hà Nội, trong vòng 2 năm qua, do tác động của khủng hoảng kinh tế, số lượng lao động đã suy giảm hàng loạt ở 100% các làng nghề được khảo sát. Trong đó có nhiều làng nghề có sự suy giảm lớn như: làng nghề mây tre đan Phú Vinh giảm trên 30%, làng sơn mài Hạ Thái gần 20%... Nguyên liệu sản xuất trở nên khan hiếm hơn và giá thành ngày một cao hơn, trong khi giá bán sản phẩm ra thị trường thế giới gần như không đổi đã đẩy lợi nhuận của các cơ sở sản xuất làng nghề xuống mức quá thấp.
Ông Nguyễn Văn Sinh - Chủ tịch Hiệp hội làng nghề lụa Vạn Phúc cho biết, năm 2011, tổng các sản phẩm lụa trong làng Vạn Phúc được tiêu thụ chỉ có hơn 2 triệu mét, con số này chỉ bằng 1/3 lượng tiêu thụ so với 3 năm trước. Trong khi đó, nguyên liệu chính trong sản xuất lụa là tơ tằm lại rất khan hiếm do chưa có quy hoạch nguyên liệu trên quy mô lớn. Thiết bị ươm tơ lại lạc hậu, nên tơ chất lượng thấp. Vì vậy, hiện nay có tới 40% số máy dệt trong làng Vạn Phúc phải “đắp chiếu” và trong vòng 2 năm qua, đã có 30% số hộ trong làng phải bỏ nghề dệt lụa – ông Sinh than thở.
Đại diện Cục kinh tế hợp tác và phát triển nông thôn, Bộ NN- PTNT cũng cho rằng, trong bối cảnh hội nhập, trước sức ép của tốc độ đô thị hóa, diện tích đất bị thu hẹp, làng nghề vùng ven đô đang đối mặt với nhiều thách thức. Mặt bằng sản xuất rất hạn chế, mật độ dân cư trong các làng nghề thường đông đúc, vì vậy, các cơ sở sản xuất thường sử dụng ngay nơi ở làm nơi sản xuất làm cho môi trường sống bị ô nhiễm nặng nề, nhất là ở các làng nghề sơn mài, dệt lụa. Trong khi đó, hầu hết các làng nghề đều gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn vì thực tế cho thấy, nguồn vốn hiện tại của các làng nghề chủ yếu là từ vay ngân hàng, từ người thân và một phần vốn tự có (bao gồm cả vốn do khách mua hàng ứng trước). Vốn ngân hàng thường có lãi cao, thủ tục vay rườm rà. Mức lãi suất các khoản vay từ ngân hàng lên đến 28% năm 2010, hiện dao động khoảng 20%, nhưng các cơ sở kinh doanh sản phẩm làng nghề vẫn rất khó có thể tái đầu tư mở rộng quy mô sản xuất.
Hồi sinh từ liên kết ?
Thực tế cho thấy, kinh tế nông thôn gắn liền với nông nghiệp có nhiều hạn chế. Nông dân ở vùng nông thôn không thể làm giàu được trên mảnh ruộng của mình dù đã cố gắng xoay xở hết cách. Làng nghề sẽ mở ra cho nông dân một hướng làm ăn khác ngay trên mảnh đất của mình. Họ sẽ không phải thất nghiệp hoặc phải đi tha phương cầu thực.
Vì vậy, theo ông Vũ Quốc Tuấn - Chủ tịch Hiệp hội làng nghề VN để các làng nghề phát triển cần phải có nhiều giải pháp đồng bộ từ làng nghề đến chính sách vĩ mô. Bản thân các cơ sở sản xuất ở làng nghề phải biết liên kết lại với nhau để thành những cơ sở, những DN mạnh ở ngay trong làng. Mô hình DN hương trấn (là mô hình phát triển toàn diện, bền vững về kinh tế, xã hội đến môi trường; tăng cường xóa đói giảm nghèo, nâng cao và đa dạng thu nhập của người dân) đang làm ăn hiệu quả ở Trung Quốc là một minh chứng. Khi làm được điều này, làng nghề sẽ có lực để bước ra, tìm hiểu thị trường và theo sát được nhu cầu của thị trường. Tuy nhiên, theo ông Tuấn vấn đề quan trọng là các chính sách vĩ mô để tạo điều kiện cho làng nghề phát triển. Lâu nay, nhà nước với các chính sách, nguồn vốn của mình luôn chú trọng đến các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là quốc doanh, mà lơ là các DN nhỏ, các cơ sở sản xuất ở làng nghề.
Vì vậy, trong thời gian tới, ngoài phát huy chức năng, mở rộng cơ sở của kênh vay vốn là Quỹ Tín dụng (hiện hoạt động tại 11 địa phương), cần thiết phải có một nguồn kênh khác như thành lập Quỹ ngành nghề nông thôn. Đây là trung gian giúp DN kết nối với các ngân hàng và là “đại diện” cho các DN để tạo niềm tin trong quá trình vay vốn tại ngân hàng. “Ngoài ra, các tổ chức xã hội như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ… cũng cần phát huy vai trò để tạo sự tín nhiệm giúp bà con vay vốn bằng tín chấp trong điều kiện không thể thế chấp, giải quyết nhanh nguồn vốn để sản xuất, duy trì ngành nghề hiện tại. Chỉ khi nào nhà nước quan tâm hơn đến thành phần kinh tế tư nhân nhỏ ở làng nghề bằng các giải pháp cụ thể như chính sách thông thoáng, nguồn vốn dễ tiếp cận, hỗ trợ xúc tiến thương mại, hỗ trợ đào tạo nghề, giúp đỡ giải quyết ô nhiễm môi trường... thì các làng nghề mới phát triển đồng bộ được – ông Tuấn chia sẻ.
Được biết, trong giai đoạn khó khăn này, tại nhiều địa phương, DN đã thực hiện nhiều biện pháp "tự cứu" rất có hiệu quả. Đó là, liên kết trong việc tìm thị trường cho sản phẩm. Ông Tạ Hoàng Linh- Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại Bộ Công Thương cho biết, một số DN ven Hà Nội trong ngành gốm sứ, đồ gỗ, mây tre,… cũng đã san sẻ cho các DN trong ngành các đơn đặt hàng, giúp họ duy trì được sản xuất. Tuy nhiên, hình thức liên kết này đòi hỏi các DN tham gia phải bảo đảm chất lượng, mẫu mã sản phẩm đã nhận thực hiện và có hợp đồng chặt chẽ bảo đảm quyền lợi của cả các bên. Một hình thức liên kết đang được thực hiện là liên kết giữa các công đoạn sản xuất ra 1 sản phẩm trong các DN làng nghề theo sự phân công, như có DN chuyên đi mua nguyên liệu; có DN chuyên làm sạch, tẩy trắng nguyên liệu (như mây, tre); có DN chuyên sản xuất; có DN chuyên vận chuyển hoặc làm đầu mối tiêu thụ… Việc làm này đã giảm bớt chi phí sản xuất rõ rệt so với từng DN khi thực hiện riêng rẽ. Một dạng liên kết hiện khá phổ biến trong DN hiện nay là trợ giúp nhau về vốn bằng nhiều hình thức. Nhiều DN đã ứng trước vốn để DN vệ tinh tiến hành sản xuất (có khi đến 30-40% chi phí sản xuất) mà không phải trả lãi.
Cũng theo ông Linh, trong các làng nghề cần có sự liên kết bảo hộ và phát triển sản xuất, tránh tình trạng bán tống, bán tháo tranh giành thị trường, hạ thấp uy tín của nhau. Nhìn rộng hơn nữa, các làng nghề cần có sự liên kết trở thành cụm làng nghề giúp đỡ nhau trao đổi thông tin, thị trường, xúc tiến thương mại, cách thức quản lý, tổ chức điều hành sản xuất, kinh doanh.
Mặt khác, ở một góc độ nào đó chúng ta đều nhận thấy, làng nghề và nông nghiệp có mối quan hệ hữu cơ với nhau vì từ xưa đến nay, nông dân vẫn trồng lúa, rau để tự túc lương thực, thực phẩm. Mỗi khi xong mùa vụ, thời gian nông nhàn, nông dân làm nghề thủ công để tăng thu nhập. Nay không còn ruộng, thu nhập từ nghề thủ công thấp không đủ sống, người lao động có xu thế tìm việc ở các khu công nghiệp để có thu nhập cao hơn. Trong khi đó, ngành công nghiệp lại chưa đáp ứng ứng đủ nhu cầu về việc làm, khiến nông dân phải bỏ làng ra nội đô để làm thuê, gây xáo trộn và bất ổn cho vùng ven đô. Vì vậy, liên kết phát triển làng nghề vùng ven đô nói riêng và làng nghề cả nước nói chung là “cú hích” giúp chúng ta duy trì mô hình làng nghề gắn với sản xuất nông nghiệp, giữ được nông dân ly nông, không ly hương – chuyên gia Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Giám đốc Trung tâm tư vấn chính sách nông nghiệp, nông thôn chia sẻ.
Lưu Hiệp