11:00:27 | 31/5/2012
Tăng trưởng tín dụng ở mức âm kể từ đầu năm trong khi thanh khoản của hệ thống NH trở nên dư thừa.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã liên tục giảm kể từ tháng 3 đến nay và có tốc độ tăng thấp nhấp so với cùng kỳ các năm trước, theo số liệu của Tổng cục Thống kê. So với tháng 12/2011, CPI tháng 5 tăng 2,78%, thấp nhất trong 3 năm. Lạm phát được nhìn nhận đã được kiềm chế đáng kể. Tín dụng lại có mức tăng trưởng âm kể từ đầu năm đến nay, trong khi tổng phương tiện thanh toán tăng 4,47% và tổng tiền gửi khách hàng tại các nhà băng tăng 5,42%. Tình trạng dư thừa vốn đã xuất hiện khiến nhiều nhà băng mang tiền mua trái phiếu chính phủ, mặc dù loại trái phiếu này có lãi suất liên tục giảm.
Câu chuyện đặt ra ở đây là làm sao khơi thông dòng vốn NH đổ vào khu vực sản xuất kinh doanh, tháo gỡ khó khăn của cộng đồng DN, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Không chỉ giảm lãi suất
Trần lãi suất huy động giảm về 11%/năm kể từ 28/7 cho thấy định hướng cắt giảm lãi suất của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Gần như ngay sau thông tin trên, một loạt NHTM đưa ra các gói cho vay lãi suất ưu đãi. Ngay trong ngày 28//5, BIDV đã có thông báo giảm lãi cho vay, với các khoản vay ngắn hạn thông thường, mức áp dụng là 12 - 13% một năm. Riêng vốn cho nông nghiệp nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp phụ trợ, xuất khẩu và khắc phục bão lũ, lãi suất là 13%, dưới trần quy định 1%.
Vietcombank áp dụng lãi suất cho vay cá nhân thông thường 13% một năm, vay mua nhà là 14%. 4 lĩnh vực ưu tiên gồm nông nghiệp, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp phụ trợ có mức lãi suất 14% một năm.
Một số NH khác cũng đẩy nhanh việc xây dựng một biểu lãi suất cho vay mới với xu hướng giảm nhằm tăng cường cạnh tranh, đồng thời mang ý nghĩa truyền thông. Nhiều ý kiến cho rằng trong nhiều trường hợp các thông báo giảm lãi suất của nhà băng chỉ mang ý nghĩa truyền thông, nhằm quảng bá là chính, thực chất rất ít DN tiếp cận được nguôn vốn giá rẻ. Thống kê của NHNN cũng cho thấy điều này: Trong 15 ngày đầu tiên áp dụng mức lãi vay trần 15%/năm cho 4 nhóm đối tượng ưu tiên, lãi suất cho vay đối với sản xuất, kinh doanh thông thường đang cao hơn từ 1 - 2,5%/năm và nhiều doanh nghiệp vẫn phải vay vốn với lãi suất 18-19%/năm.
Tuy có độ trễ chính sách, nhưng việc NHNN cắt giảm 3% lãi suất cơ bản trong vòng 2 tháng qua cho thấy định hướng điều hành giảm nhanh lãi suất của nhà quản lý, và các NH không thể thờ ơ với xu hướng này. Đây là thời điểm buộc họ phải tính toán lại việc giảm lãi suất thực chất hơn.
Việc các nhà băng thừa ứ tiền mặt, khó đẩy vốn ra đã khiến lãi suất trên thị trường liên ngân hàng xuống dưới 2,5% mức đáy kể từ 2007. NH đã đem tiền đi mua trái phiếu chính phủ, trong cả 3 phiên đấu thầu trái phiếu Chính phủ vào tháng 5 của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất trúng thầu cao nhất cũng chỉ 10,15% một năm. ngày 25/5, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) gọi thầu thành công 3.100 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 3 và 5 năm với lãi suất trúng thầu đều chỉ dưới 10% một năm, thấp hơn cả lãi suất tiền gửi NH. ngày 21/5, 2.000 tỷ đồng trái phiếu được bán hết với lãi suất 8,9% /năm.
Lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh, và khi lãi liên ngân hàng quá rẻ so với lãi cho vay, đã có hiện tượng các ngân hàng nước ngoài tranh thủ dùng vốn thị trường hai để cho vay trên thị trường một. Khi đó, lãi suất ngân hàng nước ngoài cho vay bằng đồng Việt Nam rẻ, tạo ra cạnh tranh với các nhà băng trong nước. Áp lực cạnh tranh sẽ thúc đẩy các nhà băng phải tính chuyện giảm lãi suất cho vay trên diện rộng.
Tuy nhiên, vấn đề lãi suất cao đè nặng lên sản xuất kinh doanh không phải là vấn đề duy nhất cản trợ DN tiếp cận tín dụng. Tín dụng tăng trưởng âm và từ Chính phủ đến các Bộ ngành đều nhận thấy khả năng hấp thụ vốn của DN đang rất kém, trong khi dư địa tăng trưởng tín dụng 2% mỗi tháng trong thời gian từ nay đến cuối năm. Nhưng các quy định quản trị rủi ro không cho phép NH cho vay dưới chuẩn, dễ dãi hơn khi duyệt hồ sơ vay vốn để đẩy nhanh con số tăng trưởng tín dụng. Hiện tại lãi suất có xu hướng giảm nhưng DN vẫn tiếp tục khó khăn, vẫn thiếu vốn, và vẫn khó đáp ứng yêu cầu tiếp cận vốn. Vấn đề là tháo gỡ cho những DN nào, ngành nghề nào phù hợp với tái cơ cấu DN và tái cơ cấu nền kinh tế. Đây là bài toán ở tầm vĩ mô chứ không phải là câu chuyện của riêng ngành NH.
Nút cổ chai nợ xấu
NHNN cũng đã áp dụng trần lãi suất cho vay không quá 3% trần lãi suất huy động đối với 4 lĩnh vực được khuyến khích là nông nghiệp - nông thôn, hàng xuất khẩu, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ. Đối tượng khá rộng, được xem là chiếm đến 90% thị phần tín dụng cho vay của khối NH, nhưng đây lại là nhóm đối tượng mà các NH đã dành các gói hỗ trợ lãi suất, có khi còn thấp hơn mức trần mà NHNN quy định, nhưng việc giải ngân được ghi nhận không nhiều với những điều kiện ngặt nghèo để có thể vay được. Hiện tại doanh nghiệp đã rất khó tiếp cận mức lãi suất "ưu đãi". DN vẫn còn nguyên khó khăn về vốn, với lãi suất này số có thể vay được thì không hẳn muốn vay, còn số thật sự muốn vay thì đang trong tình trạng… gần chết.
Tiến sĩ Cao Sĩ Kiêm, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa nêu ý́ kiến: “Để chủ trương hạ lãi suất đi vào cuộc sống, NH cần đưa ra những điều kiện hợp lý để cho vay, DN cũng phải cố gắng vươn lên để đảm bảo yêu cầu vay vốn của ngân hàng. Cả hai bên đều phải chia sẻ khó khăn, nếu mỗi bên đều chỉ vì lợi ích của mình, thì giống như cơ hội gặp nhau của hai người chạy hai bên bờ sông”.
Ông Nghiêm Xuân Thành, Phó tổng giám đốc Ngân hàng Vietinbank cho biết, hiện nay, vấn đề lãi suất không đáng ngại bằng nợ xấu. Vì vậy, dù lãi suất hạ, nhưng NH không dám cho vay ra nếu không giải quyết được nợ xấu.
Động thái mới nhất là NHNN có văn bản cho phép các tổ chức tín dụng được mua bán nợ lẫn nhau và mua bán nợ giữa NH và DN. NHNN cũng cho phép thực hiện các biện pháp cơ cấu lại nợ, giãn nợ… cho các DN, nhất là DN có tiềm năng kinh doanh tốt, nhưng đang khó khăn tạm thời nhằm khơi thông dòng vốn trong nền kinh tế.
Nếu vấn đề nợ xấu không được giải quyết, nút cổ chai tín dụng vẫn còn đó, và nếu lãi suất tiếp tục hạ theo điều hành của nhà quản lý, thì vốn vẫn treo cao trên đầu DN, vốn vẫn nằm chết trong hệ thống NH mà không thể đưa vào sản xuất kinh doanh và số lượng DN “chết” sẽ còn tăng mạnh.
Lê Minh