10:03:38 | 5/6/2012
Mới đây, Trung tâm nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) thuộc Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia, đã công bố Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2012, với chủ đề “Đối diện thách thức tái cơ cấu kinh tế”. Liên quan đến bản báo cáo này, phóng viên Vietnam Business Forum đã có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành, Giám đốc VEPR. Anh Phương thực hiện.
Theo ông, đâu sẽ là những trở ngại lớn của Chính phủ trong việc thực hiện nhiệm vụ tái cơ cấu trong thời gian tới ?
Với những giải pháp bình ổn nền kinh tế hiệu quả được bắt đầu từ năm 2011 (theo tinh thần Nghị quyết 11), chương trình tái cơ cấu lần này sẽ có những thuận lợi nhất định khi triển khai. Tuy nhiên, sự ổn định nền kinh tế vĩ mô cũng mang lại những hệ quả không mong muốn. Đó là sự suy giảm và khó khăn trong thấy của hệ thống doanh nghiệp trong những tháng đầu năm 2012 này. Theo đó, một loạt các doanh nghiệp phá sản đình trệ sản xuất, hoặc gặp khó khăn về vốn để duy trì kinh doanh... Chính vì vậy, nhiệm vụ tái cơ cấu của Chính phủ lần này sẽ phải tính đến các khoản chi phí kinh tế - xã hội không nhỏ, đụng chạm tới lợi ích của nhiều nhóm đối tượng. Chính điều này, sẽ đặt Chính phủ và toàn bộ nền kinh tế trước những thử thách lớn.
Tái cơ cấu hệ thống ngân hàng đang là một nhiệm vụ khó khăn đặt ra, ông nhìn nhận thế nào về nhiệm vụ này ?
Thực tế, nền kinh tế Việt Nam ngay từ trong năm 2011 đã buộc phải chụi những cơn bão suy thoái nền kinh tế toàn cầu tác động đến. Đó là cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu, đẩy thị trường tài chính thế giới vào một thời kỳ khủng hoảng. Nằm trong bối cảnh đó, nền kinh tế Việt Nam gặp phải khó khăn cũng một phần nào chính từ những chính sách từ năm trước để lại và phản ứng chính sách trong năm 2011 trước những hệ quả đó. Chính điều này, đòi hỏi nếu nền kinh tế Việt Nam muốn phát triển bền vững thì hệ thống ngân hàng phải được thay đổi một cách toàn diện mạnh mẽ. Ngoài ra, nhóm nghiên cứu của bản báo cáo này cũng chỉ ra trong giai đoạn 2010 đến quý 1/2012, ngoài những yếu tố khác có liên quan trực tiếp như lạm phát cao, thị trường bất động sản và chứng khoán sụt giảm và đóng băng, các doanh nghiệp đình đốn… thì hoạt động của hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam cũng đã bộc lộ những hạn chế nhất định từ chính các biện pháp và chính sách điều tiết trực tiếp từ Ngân hàng Nhà nước. Những yếu kém đó là cuộc đua tăng lãi suất, hiện tượng căng thẳng thanh khoản và nguy cơ ứ đọng vốn, lợi nhuận ngân hàng cao trong bối cảnh kinh tế sa sút, các doanh nghiệp kinh doanh đình đốn, phá sản… Và một điểm chú ý là tình trạng nợ xấu của hệ thống ngân hàng đang có xu hướng tăng lên, trong khi công tác quản lý điều hành quản lý vẫn còn những thiếu sót, hạn chế.
Vì vậy, khuyến nghị của VEPR là để nhiệm vụ tái cơ cấu ngân hàng thành công, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cần làm rõ các ẩn số liên quan đến mô hình, định dạng hệ thống ngân hàng sau quá trình tài cơ cấu. Đồng thời cũng cần nhìn nhận thấy nguồn lực tài chính, vai trò của các công ty mua bán nợ. Sự phối hợp của các cơ quan có liên quan trong quá trình thực hiện tái
Điểm chốt thứ hai, chính là những nút thắt trong việc tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, vậy VEPR có đề nghị nào, thưa ông?
Có thể thấy, khối doanh nghiệp nhà nước có sự đóng góp rất lớn cho sự lớn mạnh của nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên trong bối cảnh hiện tại thì nhiều doanh nghiệp nhà nước hoạt động rất kém hiệu quả. Thực tế cho thấy quy mô doanh nghiệp nhà nước có từ 500 lao động trở lên vẫn chiếm số lượng vượt trội so với khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước. Tuy nhiên, nếu đem so sánh với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thì hiệu quả của các hệ thống doanh nghiệp nhà nước lại rất hạn chế. Nói cụ thể, trong khi khối doanh nghiệp nhà nước được hưởng hầu hết các đặc quyền đặc lợi của nhà nước như: được hưởng sự ưu đãi tín dụng, sự đầu tư lớn của nhà nước, phân bổ nguồn lực sản xuất cao… khiến tốc độ mở rộng quy mô vốn của DNNN đã tăng nhanh chóng trong vòng 10 năm trở lại đây. Thực tế đáng buồn khác là, các khoản nợ của DNNN chiếm số lượng lớn tiềm ẩn nguy cơ mất cân đối tài chính dẫn đến khối doanh nghiệp này khó có thể còn giữ được vai trò là lực lượng kinh tế chủ đạo. Và đã đến lúc Chính phủ cần phải tinh giản số lượng DNNN, giảm bớt quy mô, đặc biệt cải thiện công tác quản trị doanh nghiệp... Các giải pháp này, phần nào sẽ giảm được những tổn thất mà hệ thống này mang lại cho nền kinh tế.
Một thực trạng bức xúc khác là tình trạng trạng đầu tư công đang dần lấn át đầu tư tư nhân, vậy đâu là nguyên nhân và giải pháp, thưa ông ?
Nghiên cứu của VEPR cho thấy, đầu tư công vẫn được coi như là nguyên nhân chính khiến nợ công của Việt Nam tăng mạnh từ mức 42,4% GDP năm 2005 lên mức 52,7% GDP năm 2010. Nợ công cao được coi như nguy cơ tiềm ẩn gây ra khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam trong tương lai. Và một điều rõ ràng khác là hiện đầu tư công đang “lấn át” đầu tư tư nhân. Cộng với đó là những bất cập trong cơ chế phân bổ và giám sát nguồn vốn từ Trung ương đến địa phương. Thậm chí, với cơ chế như hiện nay luôn xẩy ra địa phương đẻ ra các dự án để xin được nguồn kinh phí càng nhiều càng tốt. Trong khi đó cơ chế, chế tài giám sát việc nguồn vốn đó được phân bổ, sử dụng ra sao hầu như chưa có. Do đó, trong thời gian tới, muốn giải quyết tình trạng này, nhà nước cần phải sửa đổi việc phân cấp quản lý và đổi mới công tác quy hoạch, nhằm giúp cho đầu tư công trở nên hiệu quả hơn, hướng đến hỗ trợ thay vì chèn ép đầu tư tư nhân.