Thu hút đầu tư chéo giữa các nước ASEAN

09:55:04 | 14/4/2010

Trong những năm qua, Việt Nam luôn là điểm thu hút vốn FDI, trong đó nguồn đến chủ yếu từ các nước đến từ ASEAN. Song song với đó, Việt

Nam cũng có những bước tiến quan trọng trong việc thúc đẩy đầu tư vào các quốc gia ASEAN. Điều này khiến cho nền kinh tế Việt Nam không ngừng phát triển và vươn lên tầm cao mới.


"Nếu không tăng cường đầu tư chéo trong các nước ASEAN, chúng ta không thể đạt được sự hội nhập hoàn toàn giữa các nước thành viên.”

Đầu tư trực tiếp của ASEAN tại Việt Nam

Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính đến hết tháng 12/2009, khu vực ASEAN có dự án đầu tư được cấp phép tại Việt Nam, với tổng vốn trên 16 tỷ USD. Trong số này, Singapore giữ vị trí dẫn đầu với 474 dự án và 9,07 tỷ USD còn hiệu lực, đứng thứ hai trong tổng số 78 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam; tiếp theo là Malaixia với 219 dự án và 1,7 tỷ USD, đứng thứ 10 vốn FDI đầu tư vào Việt Nam.

Phần lớn các nước thuộc khu vực ASEAN đều đang phát triển theo mô hình hướng tới xuất khẩu dựa vào công nghệ chế biến, có tiềm lực tương đối lớn về vốn và công nghệ nhưng lại thiếu tài nguyên và giá lao động đắt. Bởi vậy, xu hướng tất yếu là các quốc gia phát triển trong khu vực chuyển dịch các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động sang Việt Nam. Việt Nam được đánh giá là nước có nguồn lao động dồi dào, lành nghề, nắm bắt kỹ nghệ nhanh vì thế giá nhân công tại Việt Nam được coi là hợp lý với mức chi phí cho đầu vào để phát triển sản xuất khá cạnh tranh so với các nước khác trong ASEAN; Việt Nam có môi trường đầu tư khá an toàn bởi tình hình an ninh,chính trị ổn định…

Đầu tư FDI từ ASEAN vào Việt Nam tập trung trong các lĩnh vực dịch vụ, giao thông vận tải, địa ốc, bưu điện, khách sạn du lịch, tài chính ngân hàng, gia công hàng may mặc, chế biến lương thực- thực phẩm, văn hoá - giáo dục. Các dự án quy mô lớn, kỹ thuật hiện đại, hay thuộc lĩnh vực công nghiệp dầu khí, viễn thông, điện tử tin học hiện nay vẫn “nhường sân” chính cho các doanh nghiệp đến từ châu Âu, Nhật Bản.

Các nước ASEAN tuy xuất hiện muộn hơn trên thị trường đầu tư Việt

Nam nhưng đã có bước tiến khá dài. Từ một số ít dự án mang tính thăm dò thị trường của các quốc gia đi tiên phong là Xinggapo, Thái Lan, Inđônêxia vào những năm 1990, dòng vốn này thực sự khởi sắc vào năm 1995 với tổng số 230 dự án và trên 3 tỷ USD đăng ký đầu tư tại Việt Nam.

Đặc biệt, ngay sau khi Việt Nam tham gia Hiệp định thương mại tự do ASEAN (AFTA), tháng 1/1996, tốc độ thu hút FDI từ khi vực đã tăng nhanh chóng, đạt tới trên 7,8 tỷ USD vào thời điểm giữa năm 1997.

Giai đoạn từ cuối năm 2000 đến nay được coi là thời kỳ phục hồi dòng vốn FDI từ ASEAN vào Việt Nam, cùng với đà phục hồi của các nền kinh tế thành viên khu vực này.

Tuy nhiên, khủng hoảng tài chính năm vừa qua đã khiến dòng vốn từ các nước ASEAN vào Việt

Nam sụt giảm mạnh. Số dự án cấp phép mới hầu như không tăng, các dự án đang thực hiện cũng bị giãn tiến độ, một số dự án chưa được triển khai.

Cục Đầu tư nước ngoài Việt

Nam chỉ rõ, thúc đẩy triển khai các dự án đã được cấp phép được coi là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu, cùng với việc vận động các dự án mới.

Các cơ quan chức năng của Việt Nam đang thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng về việc rà soát, phân loại các dự án từ Singgapo - quốc gia dẫn đầu ASEAN trong đầu tư vào Việt Nam - để có biện pháp hỗ trợ cụ thể các nhà đầu tư sớm triển khai theo cam kết. Hiện có khoảng 5 tỷ USD vốn đã cam kết từ quốc gia này chưa được triển khai.

Về đối tác đầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam cũng chủ trương vận động đầu tư từ các tập đoàn lớn đang đầu tư tại các quốc gia ASEAN để đưa Việt Nam vào hệ thống sản xuất trong khu vực của các tập đoàn đa quốc gia.

Đầu tư Việt Nam vào các nước ASEAN

Theo ông Surin Pitsuwan - Tổng thư ký ASEAN: “đến nay, đầu tư lẫn nhau giữa các nước ASEAN mới chiếm 18% dòng chảy đầu tư trực tiếp (FDI) hay 10 tỉ USD trên tổng số 60 tỉ USD FDI vào khu vực năm 2008. Nếu không tăng cường đầu tư chéo trong các nước ASEAN, chúng ta không thể đạt được sự hội nhập hoàn toàn giữa các nước thành viên”. Để đảm bảo cho đầu tư chéo của hiệu quả ngoài thu hút các dự án vào lãnh thổ của mình, còn có sự liên kết trong các dự án.

Trong những năm gần đây Việt Nam không ngừng thúc đẩy đầu tư vào các nước như Lào, CPC , Myanma. Năm 2008, 2009 Việt Nam đứng thứ đầu về đầu tư tại Lào với 200 dự án cùng tổng số vốn 2,1 tỷ USD trên các lĩnh vực: công , nông lâm nghiệp. Một số dự án đã và đang triển khai mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao như: Thủy điện Sekaman 3 , đầu tư trồng, khai thác và chế biến hàng vạn ha cao su tại Trung và Nam Lào góp phần đáng kể phát triển kinh tế xã hội của Lào nói chung và địa bàn dự án nói riêng. Việt Nam đã triển khai đầu tư công nghiệp, nông lâm nghiệp và dịch vụ du lịch, khách sạn, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm tại 16/17 tỉnh của Lào.

Đầu tư Việt Nam vào Campuchia cũng không ngừng tăng mạnh. Tính đến hết năm 2009 có 63 dự án đầu tư tại Campuchia, với tổng số vốn đăng ký đạt gần 900 triệu USD, quy mô trung bình đạt 14,2 triệu USD/dự án. Campuchia hiện đứng vị trí thứ 3 trong tổng số 50 quốc gia, vùng lãnh thổ thu hút vốn đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam (tổng cộng nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam tính đến nay đạt khoảng 7 tỷ USD).

Một điều dễ nhận thấy trong khi vốn FDI của ASEAN chảy vào Việt Nam có phần bị ngưng trệ bởi khủng hoảng tài chính thì các tập đoàn lớn Việt Nam không ngừng xúc tiến đầu tư sang các nước láng giềng.

Thu Hòa