Phát triển hàng hóa nông nghiệp theo chiều sâu

14:54:23 | 31/7/2012

Trong những năm gần đây, ngành nông nghiệp Quảng Ngãi đã đạt được những thành quả tích cực; tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất của ngành luôn ổn định và ở mức cao, bình quân 3 năm (2009, 2010 và 2011) đạt 3,8%/năm. Từ xuất phát điểm rất thấp, đến nay ngành nông nghiệp đã tạo dựng được thế và lực khá vững chắc để phát triển và hội nhập, góp phần to lớn vào sự nghiệp phát triển kinh tế -xã hội chung của toàn tỉnh.

Hình thành vùng nguyên liệu ổn định

Riêng năm 2011 là năm gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của biến động kinh tế nhưng giá trị sản xuất của ngành vẫn đạt 2,69%. An ninh lương thực trên địa bàn tỉnh được bảo đảm, lương thực bình quân đầu người đạt 355 kg, tình trạng thiếu đói về lương thực đã được khắc phục. Trong sản xuất lương thực, nhiều tiến bộ về khoa học công nghệ đã được đưa nhanh vào sản xuất, đặc biệt là công tác giống. Giống mới có năng suất cao được sử dụng phổ biến với tỷ trọng ngày càng cao. Nhờ đó, năng suất lúa đã tăng lên rõ rệt, nhiều cánh đồng đã đạt bình quân trên 60 tạ/ha/vụ. Do vậy, dù diện tích gieo trồng giảm nhưng sản lượng lúa hàng năm vẫn tăng khá.

Chăn nuôi gia súc, gia cầm tăng trưởng ổn định. Giá trị ngành chăn nuôi trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngày càng chiếm tỷ trọng cao, năm 2011 đã chiếm 34,26% giá trị sản xuất nông nghiệp; sản xuất chăn nuôi đã trở thành sinh kế chính của nhiều hộ gia đình; chất lượng đàn gia súc đã được nâng cao với tỷ lệ đàn bò lai hiện tại đạt 48% tổng đàn.

Để phát triển vùng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến, ngành nông nghiệp đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành chính sách khuyến khích phát triển vùng nguyên liệu như: hỗ trợ giống mới, chuyển đổi cây trồng, xây dựng giao thông, thuỷ lợi nội đồng, “dồn điền, đổi thửa”, hỗ trợ phát triển HTX chuyên canh… Từ nỗ lực này, nhiều vùng sản xuất tập trung, chuyên canh một số cây trồng đã hình thành như: mía (6.000 ha), mỳ (20.000 ha), cao su (2.500 ha), cây nguyên liệu giấy (71.000 ha); đáp ứng phần lớn nhu cầu nguyên liệu, góp phần phát triển công nghiệp chế biến và xuất khẩu nông lâm sản trong tỉnh.

Chú trọng gia tăng giá trị xuất khẩu

Trên cơ sở xác định rõ thế mạnh vượt trội của ngành nông nghiệp là sản xuất cây nguyên liệu (tinh bột mỳ, gỗ), khai thác thủy sản…, chính vì vậy thời gian qua tỉnh Quảng Ngãi đã dành nhiều sự đầu tư, quan tâm phát triển những ngành hàng chủ lực này, qua đó đóng góp quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu hàng năm của tỉnh.

Kim ngạch xuất khẩu của một số hàng hóa nông lâm thủy sản chủ lực ở năm 2011 đạt 77 triệu USD chiếm 30% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn tỉnh, trong đó: tinh bột mỳ 42 triệu USD, dăm gỗ 31 triệu USD, thủy sản các loại gần 4 triệu USD. Nếu không kể sản phẩm lọc hóa dầu của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất và sản phẩm công nghiệp nặng của Doosan Vina (Khu Kinh tế Dung Quất), kim ngạch xuất khẩu hàng hóa nông lâm sản chiếm đến 85% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn tỉnh.

Qua trao đổi, Giám đốc Sở NN&PTNT Dương Văn Tô cho biết tuy hàng hóa nông lâm thủy sản có vị trí quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu hàng hóa nhưng trong thời gian tới chủ trương của tỉnh vẫn là đầu tư phát triển các hàng hóa này theo chiều sâu, nâng cao chất lượng để tăng giá trị xuất khẩu thay vì phát triển theo chiều rộng, mở rộng quy mô sản xuất. Đối với cây mỳ, vì hầu hết diện tích cây mỳ tập trung ở các huyện miền núi, chính vì vậy mục tiêu là tập trung giữ ổn định quy mô vùng nguyên liệu để hạn chế việc xâm hại đến vốn rừng.

Với cây nguyên liệu gỗ, tỉnh tiếp tục đầu tư mở rộng diện tích thông qua các dự án trồng rừng sản xuất và tiếp tục luân canh trên diện tích đã khai thác. Bên cạnh đó, khuyến cáo và hỗ trợ nông dân sản xuất cây keo theo hướng lấy gỗ (thời gian thu hoạch 8 - 10 năm) thay vì bán dăm gỗ (5 - 6 năm) nhằm tăng giá trị hàng hóa và tăng thu nhập cho người sản xuất;

Riêng hàng hóa thủy sản, tỉnh tiếp tục hỗ trợ ngư dân đầu tư đóng mới và cải hoán tàu thuyền theo hướng tăng công suất tàu cá (300 - 400CV) phục vụ đánh bắt xa bờ kết hợp với trang bị các thiết bị chế biến, sơ chế nâng cao chất lượng hàng hóa; tranh thủ đa dạng các nguồn lực đầu tư để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thủy sản, đặc biệt là cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão và dịch vụ hậu cần tàu cá. Đồng thời, khuyến khích, hỗ trợ phát triển công nghiệp chế biến thủy sản, hình thành các doanh nghiệp manh về chế biến, xuất khẩu thủy sản trên địa bàn tỉnh.

Quỳnh Anh