16:25:13 | 20/9/2012
Đây là chủ đề của cuộc hội thảo chuyên đề vừa được Trung tâm nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) tổ chức tại Hà Nội, nhân dịp công bố cuốn sách Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2012. Những vấn đề cốt lõi để tái cấu trúc nền kinh tế như tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước và tái cơ cấu đầu tư đã được đề cập đến.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành – chủ biên cuốn báo cáo, với một số thuận lợi của điều kiện kinh tế vĩ mô từ cuối năm 2011, chương trình tái cơ cấu đã có lợi thế nhất định để triển khai thực hiện. Tuy nhiên, một hệ quả của chương trình bình ổn vĩ mô là sự suy giảm kinh tế và những khó khăn của hệ thống DN. Đây là những dấu hiệu đầu tiên cho thấy việc tái cơ cấu đòi hỏi những chi phí kinh tế-xã hội không hề nhỏ, đụng chạm đến quyền lợi của nhiều nhóm lợi ích khác nhau, và do đó đặt cả Chính phủ và toàn bộ nền kinh tế trước những thử thách to lớn.
Không thể giải quyết nợ xấu nhanh được
Tiến sĩ Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế TW- đại diện nhóm tư vấn và phản biện cho rằng, giải quyết nợ xấu là một nhiệm vụ khó khăn. Nguyên tắc để giải quyết nợ xấu là phải làm sạch và cân đối tài sản của các DN, tập đoàn, xử lí được chủ nợ cũ và mới, sau đó chính họ sẽ trở thành những cổ đông chiến lược, và phải xây dựng chiến lược mới, gắn với chiến lược đó là cấu trúc quản trị. Bên cạnh đó, việc yêu cầu đến năm 2015 các tập đoàn, tổng công ty nhà nước phải thoái xong vốn đầu tư ngoài ngành cũng là một nhiệm vụ không đơn giản.
.jpg)
Tiến sĩ Thành thừa nhận, xử lý các ngân hàng yếu kém và nợ xấu khó khăn hơn dự kiến ban đầu rất nhiều. Điều khó nhất chính là việc không xác định chính xác tỷ lệ nợ xấu của các NHTM, Chính phủ gặp khó khăn về tài chính cho việc thực hiện tái cấu trúc, còn người dân thì có tâm lý lo sợ và mất lòng tin vào hệ thống ngân hàng.
Ngoài ra, theo Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành, về nguyên tắc, trước tiên phải xây dựng được định chế về xử lý nợ xấu rồi mới đến việc huy động nguồn lực và thực hiện việc xử lý. Xây dựng được định chế phải mất 6 tháng, rồi mới chuyển sang “xem xét” bản kế toán của doanh nghiệp và ngân hàng. Như vậy là phải mất tới 1-2 năm để “làm sạch” những vấn đề liên quan. Chỉ riêng việc xử lý nợ xấu của doanh nghiệp và ngân hàng phải mất thời gian khá dài, có khi lên đến 3-4 năm chứ không thể nhanh được.
Vì vậy, để tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, theo ông Thành, cần làm rõ mối liên quan như nguồn lực tài chính cho tái cơ cấu, vai trò của các công ty mua bán nợ, cơ quan đầu mối và phối hợp trong quá trình tái cơ cấu, đặc biệt là mối liên hệ giữa tái cơ cấu hệ thống ngân hàng với đầu tư công và DNNN.
Cần thay đổi nhận thức về DNNN
Theo báo cáo, hiện nay, thành phần kinh tế DNNN vẫn chiếm tới 40%, DN khối tư nhân chiếm 35%, trong khi đó, khối DN này lại là nền tảng của nền kinh tế thị trường. Chính cấu trúc này đã cho thấy những bước tái cơ cấu sẽ không dễ dàng. Tiến sĩ Thành cho rằng, cần phải nhận thức được về hiệu ứng lấn át của khu vực DNNN là nguyên nhân quan trọng làm suy giảm hiệu quả và năng suất của toàn nền kinh tế. Bên cạnh đó, cần phân loại và công bố các DNNN hoạt động trong lĩnh vực công ích, các DNNN cung cấp hàng hóa công, DNNN theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, từng bước thúc đẩy các DNNN này chuyển dịch cơ cấu, hỗ trợ công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
Khu vực DNNN quá lớn và thường là đơn vị được lựa chọn để thực hiện các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, làm khuếch đại sự chèn ép của đầu tư công với đầu tư tư nhân. Chính đầu tư công có thể là nguyên nhân gián tiếp gây ra lạm phát cao. Thực tế cho thấy, đầu tư công trong giai đoạn 2006-2007, chiếm tới xấp xỉ 30% GDP xảy ra trước khi lạm phát bùng phát năm 2008 và đầu tư công lớn trong giai đoạn 2009-2010, chiếm tới 33% GDP cũng xảy ra trước lạm phát tăng mạnh năm 2011.
Ngoài ra, với cơ chế phân quyền đầu tư công giữa trung ương và địa phương như hiện nay đã vô tình khuyến khích các địa phương "vẽ” ra nhiều dự án để có thể xin được càng nhiều ngân sách càng tốt, hệ quả là đầu tư công liên tục tăng cao. Những nguyên nhân đã được chỉ ra như: quy hoạch không tốt, thiếu cơ chế giám sát nguồn vốn đầu tư từ trung ương, các khoản đầu tư công được rót từ trung ương xuống được sử dụng kém hiệu quả, chồng chéo… Do đó, báo cáo cho rằng, trong thời gian tới, cần giảm dần tỷ trọng đầu tư công trong tổng vốn đầu tư của xã hội, tăng cường mạnh mẽ hiệu quả, chất lượng đầu tư công.
Trịnh Hải