Giữ vị thế tự chủ trong sản xuất lúa gạo

11:13:42 | 26/9/2012

Từ năm 1975 đến nay, với cuộc “cách mạng” lúa gạo, trong đó yếu tố then chốt là thủy lợi và giống mới, làm biến đổi diện mạo sản xuất lúa gạ., Việt Nam từ nước nhập khẩu trở thành nước xuất khẩu lúa gạo hàng đầu khu vực. Dù vậy, việc lệ thuộc vào nguồn giống lúa nhập khẩu vẫn khiến các nhà chuyên môn day dứt.

Nhập khẩu tới 70% giống lúa lai từ Trung Quốc

Tính đến năm 2009, diện tích gieo cấy lúa lai thương phẩm đạt trên 710 nghìn ha, đưa Việt Nam trở thành quốc gia có diện tích lúa lai lớn thứ 3 thế giới, chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ. Còn theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - ông Bùi Bá Bổng, diện tích lúa lai thương phẩm ở Việt Nam hiện là 10%, không tăng trong mấy năm qua. Theo kế hoạch, từ 2013 - 2020, diện tích lúa lai thương phẩm hàng năm sẽ đạt khoảng 700-800 nghìn ha. Ông Lê Quốc Doanh, Cục trưởng Cục Trồng trọt nhận xét: chủ trương đẩy mạnh phát triển lúa lai là hoàn toàn đúng đắn, góp phần tăng năng suất, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Đặc biệt, chất lượng của các giống lúa lai đã được cải thiện đáng kể, nhiều tổ hợp lai có chất lượng gạo tốt được phát triển vào sản xuất.

Tuy nhiên, điều khiến các nhà khoa học, các cơ quan quản lý Nhà nước và nhiều địa phương lo ngại chính là việc trong suốt 10 năm qua Việt Nam vẫn chưa chủ động được nguồn giống, 70% giống lúa lai vẫn phải nhập khẩu từ Trung Quốc. Ông Phạm Văn Dư, Cục phó Cục Trồng trọt cho biết, Việt Nam có hàng trăm công ty giống cây trồng nhưng phần lớn là công ty thương mại, chủ yếu nhập khẩu giống từ Trung Quốc về bán lại cho nông dân. Thực tế thì việc nhập giống lúa lai từ Trung Quốc có lãi nhanh hơn khi so với tổ chức nghiên cứu và sản xuất giống lúa lai. Có tình trạng là hàng năm cứ đến thời điểm chuẩn bị vụ đông xuân của miền Bắc là các công ty hạt giống ồ ạt sang Trung Quốc đặt hàng lúa giống. Nhận biết được tâm lý này, các nhà cung cấp giống Trung Quốc thường tìm cách tạo ra khan hiếm giả tạo rồi đẩy giá lên cao hơn nhiều so với thông thường. Vì phụ thuộc vào một nguồn nhập khẩu nên mỗi khi giá lúa giống của Trung Quốc tăng sẽ tác động ngay đến diện tích lúa lai trong nước.

Cuộc cách mạng thứ 2 trong nông nghiệp

Theo ông Bổng, cuộc cách mạng lớn tiếp theo trong nông nghiệp là hiện đại hóa sản xuất lúa, góp phần đưa Việt Nam cơ bản là nước công nghiệp hóa vào năm 2020. Đứng về phương diện xã hội, ông Bổng cho rằng: xã hội sẽ không chấp nhận một quốc gia nông nghiệp như Việt Nam lại phải nhập khẩu tới 70% giống lúa lai từ Trung Quốc. Theo kế hoạch từ 2013 – 2020, sản xuất hạt lai F1 trong nước cung cấp 50-60% nhu cầu hạt giống cho sản xuất lúa lai đại trà; năng suất hạt lai F1 đạt trên 3 tấn/ha.

Tuy nhiên, vị thứ trưởng này còn cho rằng: muốn hiện đại hóa sản xuất lúa phải đổi mới được quan hệ sản xuất. Tức là phải khuyến khích mô hình xây dựng cánh đồng mẫu lớn - một chủ trương do ngành nông nghiệp đề xướng trong mấy năm gần đây. Ông nói, dù không thể tích tụ đất kiểu đại điền nhưng nông dân phải hợp sức lại để sản xuất tập trung theo quy trình hiện đại. Để thoát khỏi phương thức sản xuất manh mún, lạc hậu; nông dân cần hợp sức, góp đất với nhau để có những mô hình canh tác lớn hơn. Theo định hướng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, đến hết năm 2012 mô hình cánh đồng mẫu lớn có từ 40 đến 80 ngàn ha, năm 2013 đạt 100 đến 200 ngàn ha, tiến tới vùng sản xuất lúa nguyên liệu một triệu ha vào năm 2015.

Với những mục tiêu nói trên, ngành nông nghiệp Việt Nam đang thế hiện quyết tâm giữ vững ngôi vị tự chủ trong ngành sản xuất lúa gạo của mình trên thị trường quốc tế.

Thanh Yên