Giáo dục Việt Nam: Đề cao dân chủ

10:26:51 | 16/11/2012

Đất nước và người dân còn nghèo nhưng đã dành những gì tốt nhất để đầu tư cho giáo dục. Từng gia đình chắt chiu đóng góp đầu tư cho con em ăn học. Sản phẩm của ngành giáo dục là con người, chính vì vậy không cho phép giáo dục mãi loay hoay thử nghiệm, lạc lối trong sự lạc hậu, hư hỏng.

Chúng ta không thể cưỡng lại, không thể đảo ngược xu thế toàn cầu hóa, trong thế giới hiện đại, nước nào không hội nhập được, không thích nghi được sẽ bị cô lập, sẽ lạc hậu chậm phát triển, đứng bên lề sự phát triển chung của nhân loại. Nhận xét của Giáo sư Hoàng Tụy rất xác đáng.

Trọng trách của giáo dục, không chỉ dạy chữ, dạy kiến thức, mà cốt lõi là dạy con người, định hình nhân cách của thế hệ tương lai đất nước. Dạy người trong nền giáo dục đó là đề cao tính nhân văn: rèn luyện nhân cách, phẩm chất trí tuệ, năng lực cảm thụ, ý thức cộng đồng, hướng theo thang giá trị phổ quát của nhân loại đương thời… Giáo dục của chúng ta còn xa rời các vấn đề cốt lõi đó.

Đầu tư nhiều – lãng phí lớn

Đầu tư cho GD là đầu tư cho phát triển, kinh phí cho GD ngày càng tăng. Trước giai đoạn năm 2007, ngành giáo dục Việt Nam dự kiến đến năm 2010 ngân sách Nhà nước sẽ chi 20% cho ngành, nhưng dự kiến này đã thực hiện trước ba năm vào năm 2007 đã chi 20% NSNN, đó là một tỷ lệ quá lớn.

Đó là chưa kể tới mức đóng góp rất lớn của dân, mức thu của dân khoảng 50% tổng chi tiêu của GD - mức cao nhất thế giới. Trong khi đó đầu tư giáo dục ở Mỹ tính theo GDP là 7,2%, Pháp 6,1%, Nhật 4,7%. Trung Quốc 12%. Cuba vẫn giữ nền giáo dục miễn phí. Năm 1990, ta có 12 triệu học sinh, sinh viên, ngân sách nhà nước chi cho giáo dục chỉ có 767 tỉ đồng (120 triệu USD theo giá USD) còn dân đóng góp không đáng kể. Đến năm 2011 số học sinh, sinh viên tăng lên gần hai lần, là 22 triệu em, nhưng ngân sách chi cho giáo dục của Nhà nước và dân đóng góp là xấp xỉ 10% GDP (tổng số 12 tỉ USD, trong đó Nhà nước chi 7 tỷ USD) gấp 100 lần, đó là chưa kể vay của nước ngoài trung bình 100 triệu USD/năm kể từ năm 1993 đến nay.

Chỉ nói riêng về việc viết, in, bán sách giáo khoa, ngành giáo dục Việt Nam đã lãng phí tiền của một cách khủng khiếp.

Trong toàn quốc có 55 NXB, và hơn 6200 doanh nghiệp và cơ sở in ấn của Nhà nước và tư nhân, với doanh thu 1 tỷ USD/năm, với tốc độ tăng doanh thu trung bình 100 triệu USD đến 150 triệu USD/năm. Riêng giấy in sách giáo dục cần khoảng 2 triệu tấn/năm, trong nước chỉ cung cấp được 40% còn lại 60% phải nhập ngoại.

Theo số liệu điều tra ở Cty phát hành sach Hà Nội năm 2008, có 3120 sách tham khảo cho tất cả HS phổ thông, cụ thể Lớp 1 có 59 cuốn sách tham khảo, lớp 2 có 85 cuốn; Lớp 3 có 109 cuốn ; Lớp 4 có 147 cuốn,; Lớp 5 (180c); Lớp 6(202c); Lơp7 (199c); Lớp 8 (288c); Lớp9 (357c); Lớp 10 (394c); Lớp 11-(442c); Lớp 12 (148c).

Chưa kể tiền của dân bỏ ra, đợt thay Sách từ 2002 đến 2011 dự chi 32000 tỷ - khoảng 2 tỷ USD, gần đây lại có dự kiến thay SGK vào sau năm 2015, với kinh phí 70.000 tỷ đồng – khoảng 3,5 tỷ USD.

Sự lãng phí này nằm ở chỗ, ba chục năm nay ngành giáo dục Việt Nam không cho ra được bộ sách giáo khoa chuẩn. Mỗi năm lại in lại sách giáo khoa, học sinh lại mua sách mới và bỏ sách cũ, lãng phí xã hội rất lớn mà học sinh vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa vẫn không có tiền để mua sách.

Cải cách giáo dục: Đòi hỏi bức bách

Có thể nói, thực hiện công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện GD và ÐT là cần thiết nhằm góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội một cách căn cơ và bền vững. Tuy nhiên, việc đổi mới cần trên cơ sở đánh giá và nhìn nhận đúng thực trạng, tìm rõ nguyên nhân và có giải pháp vừa cụ thể, vừa tổng quát. GS, NGND Nguyễn Lân Dũng dẫn chứng từng mua hơn 70 cuốn sách giáo khoa Sinh học ở bậc phổ thông của các nước và thấy chương trình ở nước ta chẳng giống nước nào. Vừa nặng lại vừa thấp. Có thể thấy trong cuốn Sinh học chương trình phổ thông có quá nhiều nội dung, quá nhiều chi tiết không cần thiết trong khi số giờ lại quá ít.

Trong đổi mới giáo dục, việc trước tiên cần bảo đảm đủ trường lớp kiên cố với thiết bị dạy học tối thiểu. Nhanh chóng có sách giáo khoa mới cho phổ thông: các sách khoa học tự nhiên như ở các nuớc tiên tiến, sách khoa học xã hội bảo đảm tính khoa học, chính xác, đơn giản, thiết thực với phần thực hành tương thích, dạy và học giá trị sống và kỹ năng sống. Chấn chỉnh, củng cố đội ngũ nhà giáo có phẩm chất và tay nghề.

Việt Nam cần thành lập ủy ban quốc gia về cải cách giáo dục độc lập với Bộ GD và ÐT để thực hiện hai nhiệm vụ: tổ chức tiến hành cuộc tổng điều tra GD trong năm 2013 và tổ chức soạn thảo Ðề án tổng thể về cải cách giáo dục trong năm 2014 để Chính phủ trình Quốc hội thông qua và tổ chức thực hiện bắt đầu từ năm 2015.

Giáo dục đề cao dân chủ

Tuy nhiên, ngành giáo dục Việt Nam phải đối mặt với những thách thức rất lớn. Thách thức đầu tiên chính là sự lạc hậu trì trệ quá lâu. Giáo dục là một hệ thống phức tạp, khi nó sa lầy trong khủng hoảng tức là có những lỗi hệ thống trầm trọng, không cách nào chữa khỏi bằng biện pháp chắp vá, sai đâu sửa đó.

Thách thức lớn nhất, chính là tư duy đỏi mới, tư tưởng, ý thức hệ. Liệu Việt Nam đã sẵn sàng thực hiện cải cách giáo dục nghiêm chỉnh và quyết tâm?

Tuy nhiên, Việt Nam có thời cơ để đổi mới giáo dục. Hiện nay, giáo dục đang là nỗi bức xúc lớn của người dân, nếu không muốn đất nước chìm đắm mãi trong vòng lạc hậu. Chính những đòi hỏi bức xúc này sẽ thúc cải cách giáo dục toàn diện, triệt để trở thành mệnh lệnh của cuộc sống.

Giáo dục hiện đại đề cao dân chủ, vì dân chủ là một đặc tính của thời đại. Mục đích của giáo dục là làm cho trẻ nhỏ tự chủ, phát triển tối đa trí thông minh, khả năng phán đoán, khả năng tư duy độc lập và phản biện.

Có nhiều mẫu hình giáo dục thành công trên thế giới. Điểm nổi bật chung của những thành công trong giáo dục đó, chính là áp dụng nguyên tắc dân chủ. Nội dung chương trình, phương pháp sư phạm trong nhà trường, nhất là trường tiểu học không những dựa vào từng lứa tuổi, từng vùng địa lý với môi trường văn hoá xã hội khác nhau, mà thậm chí tuỳ vào thể trạng, năng khiếu của từng học sinh. Như Uỷ Ban Giáo dục Phần Lan có đưa ra một chương trình khung quốc gia, nhưng chỉ là những nét rất chung, quy định một cách tổng thể các mục tiêu giáo dục được in trong chưa đến chục trang giấy, còn việc bằng con đường nào để đạt được mục tiêu đó là việc của các trường, là việc của từng giáo viên đứng lớp.

Giáo sư Nguyễn Xuân Hãn, Đại học Quốc gia Hà Nội