10:43:09 | 7/5/2010

Nhiều phân khúc thị trường còn bỏ ngỏ
Với dân số 86 triệu người và đặc thù dân số trẻ, trong đó trên 50% là dưới 30 tuổi và tỷ lệ những người trong độ tuổi tạo ra thu nhập-có mức chi tiêu nhiều nhất (22-55 tuổi) chiếm 70%, Việt Nam được biết tới là một trong những quốc gia hấp dẫn nhất thế giới xét về chỉ số phát triển bán lẻ. Cũng cần phải nói rằng đây là chỉ số tổng hợp trong đó mức độ bão hòa của thị trường được tính tới với trọng số là 30%. Các chỉ số khác là rủi ro quốc gia, độ hấp dẫn thị trường và áp lực thời gian có các trọng số tương ứng là 25%, 25% và 20%.
Là một thị trường mới nổi có mức tăng trưởng nhanh và cơ cấu dân số thuận lợi nên thị trường bán lẻ Việt Nam trở nên hấp dẫn trong con mắt của các nhà đầu tư và bán lẻ nước ngoài. Điều đáng nói là tập quán tiêu dùng và hành vi mua sắm của người dân đã được thay đổi đáng kể trong ít năm trở lại đây. Doanh số bán lẻ đã tăng trung bình ở mức 20%/năm trong thời gian gần đây và doanh số bán lẻ năm 2008 đạt mức 54 tỷ USD.
Theo thống kê, thương mại hiện đại chiếm xấp xỉ 15% doanh số và kênh mua sắm truyền thống chiếm 85%. Một điểm có thể nhận thấy rõ là sự thiếu liên kết mang tính chiến lược giữa các nhà sản xuất – phân phối và bán lẻ. Về cơ sở hạ tầng chúng ta còn thiếu các đại siêu thị, các tổng kho, mặt bằng bán lẻ được quy hoạch hợp lý. Hiện nay các nhà phân phối và bán lẻ nước ngoài ở các qui mô khác nhau đã có mặt ở Việt Nam: Metro Cash&Carry, Casino (Big C), Parkson… và các nhà bán lẻ khác cũng đang thể hiện sự quan tâm tới thị trường Việt Nam: Wal-mart, Carefour, Tesco, DiaryFarm,. Các nhà phân phối nước ngoài trên thực tế đang chiếm lĩnh thị trường thương mại hiện đại thông qua tiềm lực tài chính, công nghệ và trình độ quản lý. Tuy nhiên, phân khúc thị trường của những người có thu nhập thấp và vùng nông thôn, vùng xa thì vẫn còn bỏ ngỏ.
Cạnh tranh với các nhà phân phối lớn
Cùng với các cam kết hội nhập thì các nền kinh tế luôn sử dụng các công cụ khác nhau để tạo ra các chính sách bảo hộ phù hợp nhằm bảo vệ các nhà phân phối và nhà sản xuất trong nước. Các diễn biến gần đây của tình hình kinh tế thế giới cũng đã chỉ ra rằng các chính phủ có thể thông qua các hệ thống phân phối nhà nước để điều tiết cung cầu và giá cả thị trường. Xét về quan điểm đầu tư nước ngoài thì lĩnh vực phân phối ở Việt Nam là thực sự hấp dẫn. Bên cạnh đó, đây là lĩnh vực hấp dẫn đối với hầu hết các nhóm ngành hàng và phân khúc thị trường (phân khúc dành cho người có thu nhập thấp, thu nhập trung bình và thu nhập cao). Việc người tiêu dùng có xu hướng tiếp nhận một cách nhanh chóng các phương thức mua sắm và sản phẩm mới đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định chiến lược và phương thức tiếp cận thị trường của mỗi nhà phân phối.
Theo Ts. Nguyễn Minh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Phát triển Doanh nghiệp- VCCI, các nhà phân phối trong nước có lợi thế là đã hiện diện lâu dài và nắm rõ thị hiếu tiêu dùng, tuy nhiên đang phải chịu các áp lực cạnh tranh mạnh mẽ.
Bên cạnh các nhà phân phối nước ngoài đã có mặt tại thị trường Việt Nam, hầu hết các nhà phân phối lớn trên thế giới cũng đã bày tỏ sự quan tâm tới thị trường Việt Nam ở các mức độ khác nhau. Tuy nhiên, theo ông Tuấn, khả năng các nhà phân phối nước ngoài tiếp cận thị trường bán lẻ Việt Nam một cách “ồ ạt” là không nhiều. Vào thời điểm cuối năm 2008 và đầu năm 2009 đã ghi nhận nhiều đoàn khảo sát của các nhà phân phối lớn nước ngoài với các phương thức kinh doanh đa dạng và các thương hiệu nổi tiếng tới khảo sát và tìm hiểu thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, việc tiếp cận phần lớn tập trung vào khảo sát, nghiên cứu thị trường và tìm cơ hội liên kết với các nhà phân phối trong nước.
Ông Tuấn cho rằng, động thái của các nhà phân phối lớn là rất đáng quan tâm bởi lẽ với tiềm lực tài chính, thương hiệu mạnh và trình độ - công nghệ quản lý tiên tiến thì các nhà phân phối này có thể đóng vai trò dẫn dắt thị trường cũng như làm trụ cột để tạo dựng liên kết với các nhà phân phối và nhà cung cấp Việt Nam. Trước mắt, các nhà phân phối này có xu hướng liên kết giữa các nhà phân phối trong nước để mở rộng thị phần.
Cần cải tiến mẫu mã và chất lượng hàng hoá
Trước những thách thức lớn trong việc chiếm lĩnh thị trường nội địa, các DN VN cần nhanh chóng cải tiến cách thức sản xuất và đặc biệt là cung ứng sản phẩm. Theo ông Tuấn, đầu tiên là các DNVN phải cải tiến mẫu mã hàng hóa. Đây là yếu tố quan trọng giúp cho các DNVN có thể đứng vững trên thị trường nội địa và vươn ra thị trường quốc tế. Từ trước đến nay, phần lớn hàng hóa sản xuất trong nước được biết đến với mẫu mã tương đối khiêm tốn. Điều này cũng ảnh hưởng đến việc xây dựng thương hiệu mang tầm quốc gia và vươn tới khu vực, quốc tế. Các DN cần nhận thấy đây là quy trình có giá trị gia tăng rất cao. Hầu hết các tập đoàn lớn trên thế giới đã cho di dời các cơ sở sản xuất ra khỏi quốc gia của mình nhưng các trung tâm thiết kế mẫu mã hàng hóa thường vẫn được đặt tại chính quốc.
Yếu tố quan trong thứ 2 phải kể đến là chất lượng và tính ổn định của hàng hóa. Ông Tuấn cho rằng, một số DN hiện nay đã có chiến lược cụ thể nhắm tới các phân khúc trung và cao cấp. Tuy nhiên, do quy trình sản xuất và hệ thống quản lý chưa đồng bộ nên đã để xảy ra lỗi sản phẩm với xác suất cao. Điều này ảnh hưởng rất mạnh đến uy tín của doanh nghiệp. Trong một số trường hợp, yếu tố này đã hướng người tiêu dùng càng trở nên “sính hàng ngoại”. “Nếu DN lựa chọn giải pháp sản xuất hàng hóa với chất lượng ở mức phù hợp nhưng có độ ổn định cao thì sẽ có chỗ đứng và đà phát triển tốt hơn nếu so sánh với giải pháp tiếp cận thị trường cao cấp khi các nền tảng của doanh nghiệp chưa đủ’, ông Tuấn khẳng định. Một yếu tố đặc biệt quan trọng trong việc gây dựng lòng tin của người tiêu dùng trong nước và quốc tế là công tác cấp giấy chứng nhận về chất lượng. Hệ thống các quy chuẩn sẽ giúp cho người tiêu dùng loại bỏ những e ngại khi sử dụng hàng Việt Nam.
Yếu tố quan trọng thứ 3 là giá. Hiện nay, một số sản phẩm nội địa được tiêu thụ tốt đã được định giá cao trên mức người tiêu dùng có thể chấp nhận được. Chính vì lẽ đó, nên một số sản phẩm sau khi tạo được tiếng vang trong thị trường đã bị thu hẹp thị phần và chìm vào quên lãng. Bên cạnh đó phải kể đến yếu tố đa dạng hóa chủng loại sản phẩm. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn chưa có chiến lược phát triển sản phẩm cụ thể đối với các vùng ngoại thành, nông thôn, vùng sâu vùng xa, trong khi các tập đoàn đa quốc gia đã có những chiến lược rất mạnh mẽ để phát triển các sản phẩm phục vụ cho các đối tượng thu nhập thấp, vùng xa.
Ngoài ra, các DNVN cần xây dựng liên kết giữa mạng lưới phân phối bán lẻ và các nhà sản xuất hàng hóa nội địa; tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp lớn với các doanh nghiệp nhỏ. Đối với hàng nông sản, cần đặc biệt lưu ý tới việc gây dựng và thúc đẩy phát triển các hình thức tổ chức của nông dân. Sau một giai đoạn phát triển, các hình thức này có thể được chuyển thành các doanh nghiệp nhỏ tại nông thôn và tạo đà cho liên kết và hợp tác với các doanh nghiệp trong nước và quốc tế. Vấn đề quảng bá và giới thiệu sản phẩm có chất lượng tốt, mang tính điển hình và tiêu biểu của nông dân cũng cần được đẩy mạnh.
Quỳnh Chi