Ổn định và hiệu quả là động lực tăng trưởng kinh tế

09:38:43 | 16/4/2010

Nhờ các giải pháp chính sách kịp thời và mạnh mẽ, Việt Nam đã vượt qua suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2009 và dự kiến sẽ tăng trưởng cao hơn vào năm 2010 và 2011. Tuy nhiên, các biện pháp kích thích kinh tế cũng tạo nên sức ép lạm phát và phá giá tiền tệ.

Trong một báo cáo quan trọng vừa được công bố, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) cho rằng Việt Nam cần có các biện pháp tập trung ổn định kinh tế vĩ mô hơn là tăng trưởng nhanh, đồng thời cải thiện hiệu quả nền kinh tế nhằm bảo đảm tăng trưởng bền vững với tư cách là một nước có thu nhập trung bình.

Thách thức lớn

Báo cáo Triển vọng Phát triển Châu Á 2009, ấn phẩm hàng năm của ADB chuyên dự báo các xu hướng kinh tế tại Châu Á đã khen ngợi sự điều hành kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong khủng hoảng kinh tế toàn cầu và tỷ lệ tăng trưởng 5,3% năm 2009. Với chính sách tài khóa thắt chặt nhằm đạt mục tiêu hạn chế thâm hụt tài khóa 8,3% GDP và chính sách tiền tệ thắt chặt với mục tiêu tăng trưởng tín dụng 25% năm nay, tăng trưởng GDP dự kiến đạt tương ứng 6,5% và 6,8% vào năm 2010 và 2011. Trong khi đó, lạm phát trung bình dự kiến tăng tương ứng 10% và 8% năm 2010 và 2011.

Báo cáo cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của ổn định kinh tế vĩ mô. Bởi lẽ, điều này sẽ tạo ra niềm tin cho các nhà đầu tư và đây sẽ là yếu tố chính giúp Việt Nam thu hút lượng đầu tư nước ngoài lớn và bảo đảm mức thặng dư tài khoản vốn cao hơn thâm hụt tài khoản vãng lai và qua đó làm tăng dự trữ ngoại tệ. Trong quá trình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội mới giai đoạn 2011-2015 với tư cách là nước có thu nhập trung bình, việc tập trung tăng cường hiệu quả sẽ giúp Việt Nam hội nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Tuy nhiên, Báo cáo cũng cho rằng, Việt Nam sẽ vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó thách thức lớn hiện nay là vừa đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế vừa bảo vệ sự ổn định kinh tế vĩ mô.

Chính sách tài chính của Việt Nam hiện đã phần nào đã được thắt chặt hơn: ngân sách năm 2010 nhắm vào một mức tổng thâm hụt tài chính hẹp hơn vào khoảng 8,3% GDP. Về mặt tiền tệ, trợ cấp lãi suất cho các khoản vay ngắn hạn đã kết thúc, nhưng trợ cấp vẫn được duy trì cho những khoản vay trung hạn cho một số ngành được lựa chọn ở mức giảm 2% điểm. NHTW cũng loại bỏ trần lãi suất cho vay trung và dài hạn vào tháng 2/2010, cho phép các ngân hàng tăng lãi suất cho vay. Ngoài việc tăng lãi suất cơ bản của NHTW vào cuối năm 2009, các nhà chức trách đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng trong năm 2010 ở mức 25%, dưới mức tăng trưởng thực tế 39,6% của năm ngoái.

Kịch bản cho năm 2010 và 2011

Báo cáo đã dự báo dựa trên giả định rằng Chính phủ sẽ thực hiện các chính sách và biện pháp như sau: thắt chặt các chính sách tiền tệ và tài khóa hơn nữa trong năm 2010 để hạn chế áp lực lạm phát và phá giá, và giữ cho các chính sách chặt vừa phải trong năm 2011; không sử dụng các biện pháp hành chính để kiểm soát lạm phát; và duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng.

Trên các giả định này, theo báo cáo, tăng trưởng GDP dự kiến tăng tốc lên 6,5% vào năm 2010 và 6,8% vào năm 2011. Mức tăng dự kiến trong luồng kiều hối và thu nhập sẽ tăng tốc độ tăng trưởng của tiêu dùng tư nhân. Việc cải thiện và củng cố các điều kiện tài chính toàn cầu sẽ mang lại một sự cải thiện trong dòng vốn FDI và đầu tư tài chính nước ngoài. Đồng thời, tăng trưởng tiêu dùng xã hội và đầu tư tài chính trong nước sẽ ở mức vừa phải do sự suy giảm trong chi tiêu ngân sách và tín dụng ngân hàng chặt chẽ.

Sự mạnh lên của nhu cầu bên ngoài dự kiến góp phần thúc đẩy tăng trưởng nông nghiệp và sản xuất trong cả hai năm 2010 và 2011. Sản lượng dầu có thể sẽ ở vào khoảng 16,5 triệu tấn trong năm 2010 nhưng giảm vào năm 2011 do sản lượng ở các giếng dầu cũ giảm đi. Ngành xây dựng sẽ bị giảm sút tăng trưởng do sự suy yếu của đầu tư tài chính trong nước. Ngành dịch vụ dự kiến sẽ được hưởng lợi từ việc mở rộng các hoạt động ngoại thương và lượng khách du lịch tăng lên.

Lạm phát trong năm 2010 được dự báo sẽ tăng tốc ở mức trung bình khoảng 10,0%, do sự tăng trưởng nhanh chóng của cung tiền trong năm 2009, việc phá giá đồng Việt Nam, và sự gia tăng dự kiến trong hoạt động kinh tế và giá cả hàng hóa thế giới vào năm 2010. Lạm phát tăng lên 8,5% trong quý đầu tiên của năm 2010 so với cùng kỳ năm ngoái. Giả định chính sách tiền tệ và tài chính được thắt chặt năm nay, lạm phát có thể giảm xuống khoảng 8,0% vào năm 2011.

Xuất khẩu sẽ tăng vào năm 2010 do sự tăng cường nhu cầu bên ngoài. Du lịch và các luồng kiều hối dự kiến tăng lên do tình hình kinh tế của các nền kinh tế công nghiệp được cải thiện. Tuy nhiên, nhập khẩu sẽ tăng hơn xuất khẩu do sự gia tăng dự kiến của tăng trưởng trong nước và giá nhập khẩu cao hơn. Theo đó, dự kiến thâm hụt tài khoản vãng lai sẽ nới rộng một chút tới mức 7,6% GDP vào năm 2010.

Dòng vốn FDI sẽ phục hồi, do điều kiện tài chính toàn cầu được cải thiện.
Luồng đầu tư gián tiếp có thể vẫn ở quy mô nhỏ và luồng ra của vốn ngắn hạn sẽ có thể ở mức vừa phải. Tài khoản vốn được kì vọng sẽ có thặng dư và vị trí cán cân thanh toán gần với mức cân bằng, với điều kiện duy trì được niềm tin về ổn định kinh tế vĩ mô trung hạn và mức dự trữ ngoại hối chính thức ít thay đổi.

Trong năm 2011, một sự tăng trưởng nhanh hơn dự kiến trong xuất khẩu, du lịch, và kiều hối sẽ kéo thâm hụt tài khoản vãng lai ở mức khoảng 5,5% GDP. Luồng vốn cũng tăng do đà phục hồi toàn cầu. Cán cân thanh toán tổng thể được dự kiến sẽ trong thặng dư vào năm 2011, nâng dự trữ chính thức.

“Thỏ chưa chắc về đích trước Rùa

Ông Ayumi Konishi, Giám đốc quốc gia ADB tại Việt Nam cho rằng “nếu hiệu quả của nền kinh tế Việt Nam không được cải thiện, thì các nỗ lực nhằm đạt tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao hơn chắc chắn sẽ dẫn đến sự quay trở lại của lạm phát cao và tâm lý lo ngại lạm phát của người dân sẽ tạo sức ép đối với đồng nội tệ Việt Nam”. Ông Konishi cũng cho biết thêm: “Lạm phát sẽ làm cho người nghèo phải gánh chịu hậu quả nhiều nhất và những kỳ vọng về phá giá sẽ không khích lệ được luồng đầu tư trực tiếp nước ngoài vốn là động lực của tăng trưởng kinh tế nhanh”.

Hiện nay, tình trạng thiếu ngoại hối trên thị trường chính thức đã làm giảm niềm tin vào tiền tệ, thúc đẩy lạm phát và làm tổn thương đầu tư. Báo cáo cho rằng Việt Nam cần giải quyết vấn đề này thông qua một sự kết hợp của chính sách tiền tệ thắt chặt hơn và tăng sự linh hoạt về tỷ giá.

Trong đó, điều quan trọng là cải thiện khuôn khổ pháp lý và thể chế cho chính sách tiền tệ trong trung hạn. “Duy trì ổn định giá cả nên là mục tiêu chính của chính sách tiền tệ, và NHNN phải được hoạt động tự chủ đủ để theo đuổi mục tiêu này một cách có hiệu quả”, báo cáo nhận định.

Những bước tiến lớn đã được Việt Nam thực hiện để nâng cao tính hiệu quả của nền kinh tế và giảm những hạn hế về nguồn cung đối với tăng trưởng, nhưng ADB cho rằng Việt Nam vẫn cần phải có nhiều tiến bộ nữa. Đáng chú ý, những nút thắt cổ chai về cơ sở hạ tầng, sự bất cập trong khuôn khổ pháp lý và điều tiết cho khu vực tư nhân, và tình trạng thiếu lao động có kỹ năng vẫn còn tồn tại…Theo ước tính, đầu tư vào cơ sở hạ tầng trong 10 năm tới sẽ chiếm khoảng 11% GDP mỗi năm. Chỉ khoảng một nửa có thể được đáp ứng từ ngân sách. Rõ ràng, việc tạo ra các khuôn khổ chính sách và pháp lý nhằm khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào cơ sở hạ tầng thông qua quan hệ đối tác công – tư là hết sức cần thiết.

Ông Konishi nhận định, “sự ổn định và hiệu quả sẽ là động cơ cho sự phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam, và bây giờ không phải lúc vội vàng. Như nhiều người Việt Nam đã biết rất rõ, Thỏ chưa chắc về đích trước Rùa”, ông Konishi bổ sung thêm.

Mai Anh