Người nghèo dân tộc thiểu số đã giảm

10:47:59 | 17/1/2013

Tỷ lệ nghèo ở nhóm dân tộc thiểu số giảm được 8% trong 5 năm qua, đặc biệt tỷ lệ nghèo ở nhóm dân tộc Mông giảm được 24,3%. Đây là một trong những kết luận của Báo cáo “Tác động của Chương trình 135 giai đoạn II ( 2006-2010) nhìn từ lăng kính của 2 cuộc điều tra đầu kỳ và cuối kỳ”, được Ủy ban dân tộc công bố vừa qua tại Hà Nội.

Việt Nam được biết đến là một trong những quốc gia thành công nhất trên thế giới trong công cuộc giảm nghèo và phát triển kinh tế trong vòng 2 thập kỷ vừa qua. Tỉ lệ nghèo đã giảm từ 58% năm 1993 xuống khoảng 14% năm 2008. Cải cách về đất đai và thương mại là những yếu tố chính giúp cho tăng trưởng kinh tế cao và bền vững. Nhờ đó, cứ ba trong số bốn người nghèo đã thoát nghèo trong giai đoạn này. Tuy nhiên, theo thời gian tốc độ giảm nghèo đang chậm lại và phần lớn người nghèo sống ở khu vực nông thôn vùng sâu vùng xa, nơi cư trú chủ yếu của đồng bào dân tộc thiểu số.

Để các hộ nghèo có nhiều cơ hội hưởng lợi từ các thành quả kinh tế, chính phủ đã đưa ra chương trình 135 giai đoạn II (CT135-II). Đây là một chương trình giảm nghèo lớn và quan trọng nhất, hỗ trợ cho dân tộc thiểu số và vùng sâu vùng xa.

Chương trình 135 giai đoạn II là một chương trình phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo quan trọng của Chính phủ VN. Nhằm đánh giá được tính hiệu quả của CT135-II và tăng cường năng lực thiết kế của các chương trình trong tương lai, Ủy ban dân tộc đã thực hiện cuộc điều tra đầu kỳ vào năm 2007, với sự hỗ trợ của CHương trình phát triển LHQ (UNDP), và điều tra cuối kỳ vào năm 2012 với hỗ trợ của Đại sứ quán Phần Lan và UNDP. Quy mô mẫu gồm 600 hộ ở 400 xã thuộc 42 tỉnh, cùng với việc áp dụng phương pháp thiết kế điều tra bài bản và quy trình đánh giá tác động có hệ thống, hại cuộc điều tra này đã cung cấp các bộ số liệu toàn diện về đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực nghèo và khó khăn nhất.

Kết quả của báo cáo cho thấy, tỷ lệ nghèo đã giảm nhiều ở nhóm dân tộc thiểu số ( từ 57,2% năm 2007 xuống 49,2% năm 2012), trong đó dân tộc Mông, Nùng và Tày là nhóm dân tộc thiểu số thành công nhất ( nhóm Mông giảm từ 83,5% năm 2007 xuống 59,2% năm 2012). Giảm nghèo chủ yếu do tăng thu nhập, tuy nhiên mức tăng này có xu hướng giảm theo thời gian. Thêm vào đó, giảm nghèo ở các xã CT135-II chưa bền vững. Tỷ lệ các hộ nghèo tái nghèo còn khá hơn (14,3%).

Chương trình đã có tác động đáng kể tới mức sống của các hộ gia đình thụ hưởng ở các xã mục tiêu, đặc biệt là các hộ dân tộc thiểu số. Thu nhập của hộ đã tăng lên khoảng 20% sau 5 năm, tuy nhiên, vẫn còn thấp hơn nhiều so với mức trung bình của cả nước (khoảng 50%). Những hộ nghèo hơn có mức tăng thu nhập thấp hơn so với các hộ khá và khoảng cách giữa các hộ nghèo và không nghèo ở các xã này ngày một nới rộng.

Điều kiện về nhà ở đã được cải thiện đáng kể ở tất cả các hộ gia đình. Tuy nhiên, tình hình sử dụng nước sạch và nhà vệ sinh đạt chuẩn vẫn còn rất hạn chế. Nước sạch vẫn là một vấn đề đáng quan tâm. Chỉ có 13% các hộ dân tộc thiểu số có nước máy, trong khi số liệu tương ứng ở cấp quốc gia là 27% năm 2010.

Báo cáo cũng cho thấy, tình hình tiếp cận nguồn điện của các xã CT 135-II đã được cải thiện đáng kể. Tỷ lệ các hộ được sử dụng điện đã tăng từ 68,6% năm 2007 lên 83,6% năm 2012.

CT135-II đã đạt được thành công đáng kể trong thực hiện phương pháp tiếp cận có sự tham gia với tiến bộ đáng ghi nhận trong việc thực hiện phân cấp phân quyền. Trong năm 2010, khoảng 85% các công trình/dự án của CT135-II đã tổ chức các cuộc họp lựa chọn công trình ở địa phương, tỷ lệ hộ gia đình biết được thông tin các buổi họp là 56,1% và 79,3% trong năm 2007 và 2010. Những thay đổi này đã thể hiên những cải thiện to lớn so với giai đoạn I và các chương trình khác. Các hộ thụ hưởng đã tham gia vào mọi giai đoạn của quá trình thực hiện các dự án từ việc chọn lựa công trình đến thực hiện, giám sát và đóng góp cho quỹ duy tu, bảo dưỡng. Minh bạch tài chính cũng được cải thiện ở mức độ nhất định.

Báo cáo cũng cho thấy, mục tiêu 100% các xã có thể làm chủ đầu tư các công trình/dự án vào thời điểm kết thúc chương trình đã không đạt được như mong đợi. Tuy nhiên, nhờ có công tác tăng cường năng lực, số lượng các công trình/dự án do xã làm chủ đầu tư đã tăng gấp đôi đến năm 2010 (45,9%), phản ánh những bước tiến về năng lực của các xã để trở thành chủ đầu tư.

Bên cạnh đó, mức độ tác động của CT135-II phụ thuộc vào nguồn lực tăng cường cho các xã mục tiêu. Tuy nhiên, trong khi các xã thuộc chương trình nhận được nhiều vốn hơn từ nguồn của CT 135-II so với các xã ngoài chương trình thì vốn từ các nguồn khác mà họ nhận được lại giảm đi rất nhiều. Kết quả cho mục tiêu thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các xã thuộc CT135-II và các xã khác cũng như khoảng cách giữa các hộ nghèo và không nghèo, giữa hộ người kinh và dân tộc rất khó thực hiện. Thêm vào đó, việc tái phân bổ ngân sách ngoài chương trình 135 đã gây khó khăn trong việc xác định được tác động của CT 135 và khiến cho tác động của chương trình có thể bị đánh giá thấp hơn so với thực tế.

Vì vậy, báo cáo khuyến nghị những vấn đề này cần phải được giải quyết và giám sát trong các chương trình tiếp theo để đảm bảo rằng nguồn vốn sẽ được phân bổ cho các nhóm mục tiêu sẽ không làm ảnh hưởng đến quyết định của chính quyền địa phương về phân bổ các nguồn vốn khác.

Theo Ủy ban dân tộc, với những cách làm mới và những kết quả tác động đạt được chứng tỏ chương trình 135-II đã cung cấp những hỗ trợ hiệu quả nhằm xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn vừng đồng bào dân tộc và miền núi. Những bài học từ CT 135-II sẽ tiếp tục được phát huy cho Chương trình 135 giai đoạn 2012-2015 và những năm tiếp theo.

Quỳnh Chi