Nhiều lợi ích khi nới room ngoại

11:26:24 | 15/3/2013

Hiện nay, Ngân hàng nhà nước đang Dự thảo Nghị định qui định tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các tổ chức tín dụng trong nước, trong đó có nội dung cho phép những ngân hàng nước ngoài có tiềm lực tài chính mạnh hoạt động hiệu quả được mua tỷ lệ cổ phần ở mức trên 30%/vốn điều lệ đối với những ngân hàng trong nước hoạt động không hiệu quả. Điều này đã thu hút sự quan tâm của rất nhiều các tổ chức tài chính trong và ngoài nước.

Trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua ( 2007- 2012 ), nền kinh tế trong nước đã bị biến động mạnh với nợ xấu tăng cao, thanh khoản của hệ thống ngân hàng nội địa nhiều lần bị đe dọa, lãi suất huy động cao và nhiều lần bị biến động. Tuy nhiên, đối với hệ thống ngân hàng nước ngoài tại VN nhìn chung ít bị ảnh hưởng bởi thanh khoản, ít bị căng thẳng và vi phạm Luật trong huy động vốn VND.

Phải thừa nhận rằng vai trò của khối ngân hàng nước ngoài trong nền kinh tế là vô cùng quan trọng, khối này đã cung ứng nguồn tín dụng không nhỏ cho khối doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, trong nhiều trường hợp với lãi suất thấp.

Theo đánh giá của Hiệp hội đầu tư tài chính VN- VAFI, nếu cho phép ngân hàng nước ngoài có tiềm lực tài chính lớn mua cổ phần đa số của NH yếu kém trong nước, thì sẽ có một nguồn vốn tự có lớn (khoảng vài trăm triệu USD/ ngân hàng) bơm thẳng vào ngân hàng yếu kém để tái cấu trúc tình hình tài chính yếu kém, tỷ lệ nợ xấu giảm nhanh.

Bên cạnh đó, tính thanh khoản của ngân hàng nội được tăng lên nhanh chóng, không còn tình trạng đe dọa mất thanh khoản, không còn tình trạng cạnh tranh lãi suất huy động vượt rào và sẽ giúp cho hệ thống ngân hàng trong nước có nhiều điều kiện để giảm nhanh mặt bằng lãi xuất huy động. Cùng với việc bơm vốn, phuơng thức quản trị doanh nghiệp sẽ được thay đổi căn bản, sẽ không xảy ra nhiều tình trạng lạm quyền, tiêu cực tham nhũng trong công tác quản trị…

Điều này sẽ khiến những ngân hàng yếu kém trở thành những ngân hàng mạnh, góp phần làm cho hệ thống ngân hàng trong nước mạnh lên. Hiệu quả này đã từng được chứng minh qua việc mở cửa thị trường ngân hàng Châu Á tại thời điểm cần giải quyết hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á (giai đoạn 1997 – 2002).

Tuy nhiên, theo nhìn nhận của VAFI, các ngân hàng nước ngoài sẽ không đầu tư vào NH yếu kém bằng mọi giá. Bởi cái gốc của sự yếu kém của các ngân hàng trong nước là vấn đề quản trị doanh nghiệp yếu kém. Ngân hàng nước ngoài có hỗ trợ vốn hoặc các ngân hàng này có huy động được vốn cổ phần thì về cơ bản vẫn không thay đổi, việc tìm kiếm nhân sự cao cấp trong nước để điều hành ngân hàng yếu kém là vấn đề không đơn giản vì yếu kém về quản trị doanh nghiệp cộng với tiềm lực tài chính yếu kém sẽ rất khó mang lại hiệu quả tốt.

Không đầu tư vào ngân hàng yếu kém bằng mọi giá, tuy nhiên bằng nguồn vốn dồi dào của mình cộng với năng lực quản trị doanh nghiệp của ngân hàng nước ngoài, những tổ chức tín dụng yếu kém sẽ được cải tổ triệt để và sẽ không còn là lực cản trong công cuộc cải cách quản trị của hệ thống ngân hàng. VAFI cho rằng, nếu thực hiện nhanh giải pháp này trên diện rộng (khoảng 15 ngân hàng) thì các DNVN sẽ nhanh chóng được thụ hưởng mức lãi suất cho vay VND khoảng 8%/năm .

Phân tích của VAFI cho thấy, các quốc gia phát triển trên thế giới không còn giới hạn tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, chính vì vậy đã xuất hiện những ngân hàng khổng lồ là kết quả của tiến trình hợp nhất sáp nhập giữa ngân hàng nội địa với nhau và giữa ngân hàng lớn nước này và nước khác.

Những quốc gia thận trọng đi sau thường có độ mở thấp hơn các quốc gia phát triển nhất thế giới nhưng độ mở vẫn rộng hơn VN. Chẳng hạn như Thái Lan, nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu không quá 49%/ vốn điều lệ đối với cổ phiếu thường, với cổ phiếu không có quyền biểu quyết (NVS) thì không có giới hạn, ngoài ra khái niệm nhà đầu tư nước ngoài cũng khác so với VN, chẳng hạn nhiều nước coi những tổ chức nước ngoài thành lập theo pháp luật trong nước là nhà đầu tư trong nước .

Theo VAFI, room trong lĩnh vực ngân hàng bị bó hẹp thì rất khó khăn trong việc tìm kiếm đối tác chiến lược mạnh, đồng nghĩa với việc khó khăn trong việc huy động vốn từ các nhà đầu tư tổ chức, và cũng đồng nghĩa với việc cơ cấu cổ đông nghèo nàn, kém cỏi, chủ yếu là những cổ đông cá nhân, cổ đông tổ chức thụ động và cổ đông gia đình. Chính cơ cấu cổ đông kiểu này đã không kiểm soát được những cổ đông sáng lập điều hành và từ đó gây ra việc lạm quyền, tham nhũng, không những xâm phạm quyền lợi của người góp vốn mà còn xâm phạm quyền lợi của người gửi tiền, dẫn đến Ngân hàng nhà nước phải ra tay cứu.

Mai Ngọc