Lối đi nào để phát triển tập đoàn kinh tế

09:58:11 | 18/5/2010

Mới đây, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã được Chính phủ giao nhiệm vụ hoạch định chính sách để phát triển mạng lưới các tập đoàn kinh tế của Việt Nam. Nhưng thực tế, khi bắt tay vào việc, mới thấy vấn đề còn quá nhiều vướng mắc cả về phía cơ chế chính sách lẫn điều kiện thực tế.

Có hiệu quả hay không?

Hiện nay, các tập đoàn kinh tế Việt Nam là những DN kinh doanh độc quyền như: viễn thông, xăng dầu, dầu khí, điện lực, khai thác than và khoáng sản… Tuy nhiên, trước sự hội nhập sâu rộng của nền kinh tế thế giới và đường lối đổi mới kinh tế, vị thế độc quyền của các doanh nghiệp nhà nước này dần bị hạn chế. Chuyển đổi sang mô hình mới là công ty mẹ - con hay cổ phần hóa... trên thực tế đã mang lại những hiệu quả kinh doanh khả quan. Chính nhờ những cởi trói trên mà nhiều tập đoàn kinh tế dân doanh đã ra đời và hoạt động hiệu quả như: Tập đoàn PG tại Hải Phòng; Việt Á; Sunfat, Hòa Phát, Nam Cường,… Bên cạnh đó, các tập đoàn kinh tế nhà nước trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng sau khi tiến hành cổ phần hóa đã cho thấy sự lớn mạnh trong tổ chức và điều hành mang lại nguồn thu lớn. Đó là Tổng công ty Bảo hiểm Nhà nước; Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank); Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), sau khi thay đổi cơ chế , quy mô vốn DN tăng lên nhiều so với trước, lợi nhuận, thu nhập người lao động cũng tăng cao hơn.

Tuy nhiên, hiện nay nhiều chuyên gia kinh tế đã có những cảnh báo về hiệu quả trong việc đầu tư phát triển thị trường kinh doanh của các tập đoàn kinh tế còn quá thấp và yếu kém. Trên thực tế, đã có thời kỳ các doanh nghiệp nhà nước được bật đèn xanh và được tài trợ những nguồn vốn khổng lồ để đầu tư vào các dự án. Song một thời gian sau đã chứng minh điều ngược lại là đấy chỉ là một kiểu bao sân của nhà nước thiếu hiệu quả gây lãng phí, thậm chí mất cân đối cho nền kinh tế.

Các doanh nghiệp nhà nước đầu tư vào thị trường tài chính – chứng khoán, do không có chiến lược và hoạt động theo kiểu ăn xổi, vốn bị kéo vào lĩnh vực trên quá nhiều dẫn đến trống vốn ở các khu vực sản xuất kinh doanh, do đó, khu vực sản xuất, khu vực kinh tế vừa và nhỏ, khu vực kinh tế tư nhân trở nên lép vế, gây mất cân đối tiền - hàng hai chiều. Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, Việt Nam cần lấy lại cân bằng cho nền kinh tế bằng cách siết chặt kiểm soát các tập đoàn kinh tế đầu tư tràn lan ra ngoài ngành.

Cũng có ý kiến khác cho rằng, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới và trong khu vực còn quá nhiều bất cập và nhạy cảm, thì các các tập đoàn kinh tế lớn nằm trong tầm kiểm soát của nhà nước sẽ có lúc trở thành một công cụ để điều tiết tính ổn định thị trường. Xét trên khía cạnh quản lý nhà nước, việc các tập đoàn kinh tế được ưu đãi lượng vốn lớn để đầu tư sản xuất là hợp lý. Bởi khi đó các lĩnh vực kinh tế mũi nhọn sẽ có điểu kiện để phát triển đảm bảo sức sống cho nền kinh tế. Tuy nhiên, ở nhiều mô hình tập đoàn kinh tế, dù đã được đầu tư lớn nhưng nhiệm vụ được giao vẫn chưa hoàn thành. Kết quả là hiện nền kinh tế vẫn thiếu nhiều nguyên liệu để sản xuất như điện, xi măng, muối...

Ngoài ra, việc hình thành các tập đoàn kinh tế cũng là một biện pháp để nhà nước có những cứ điểm kinh tế mạnh để khi cần có thể đối phó hoặc bình ổn thị trường khi bị các doanh nghiệp nước ngoài lũng đoạn thao túng trên thương trường. Xong thực tế lại ngược, hiện các tập đoàn kinh tế của Việt Nam được hình thành chỉ có thể cạnh tranh với nhau hoặc các công ty nhỏ trong nước chứ chưa đủ tiềm lực cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài.

Giải pháp lâu dài

Đã đến lúc, Việt Nam cần những tập đoàn kinh tế đủ mạnh để ứng phó với những thay đổi mạnh mẽ của nền kinh tế, đóng vai trò hạt nhân thúc đẩy sự phát triển cũng như hạn chế những khó khăn khi Việt Nam ngày càng bước vào sân chơi toàn cầu sâu hơn. Khi có ý tưởng phát triển những tập đoàn kinh tế mới, cũng như dung dưỡng những mô hình tập đoàn kinh tế cũ, theo các chuyên gia, Chính phủ và nhà nước cần ý thức rõ những tiềm năng cơ hội mang lại đồng thời phải nhìn thấy trước những rủi ro.

Theo ý kiến nhiều chuyên gia, một trong những giải pháp trước mắt là nhà nước cần xây dựng cơ chế chính sách rõ ràng để các tập đoàn kinh tế NN bình đẳng giống như các doanh nghiệp khác, không được nhận ưu đãi; phải kiên trì phá bỏ thế độc quyền của DNNN, không tạo ra cộng đồng các DNNN cạnh tranh với nhau.

Ngoài ra, yếu tố bình đẳng và công bằng cũng phải được tính đến, theo thống kê chưa đầy đủ hiện nay các tập đoàn nhà nước chiếm tới khoảng 70-80% vốn tín dụng, khoảng gần 100% tài nguyên nhưng giải quyết lao động bằng một nửa khu vực tư nhân. Thực tế trên đã gây ra sự bất bình đẳng và làm giảm sự phát triển của các tập đoàn kinh tế.

Một con đường khác để nâng cao sức mạnh của các tập đoàn kinh tế là việc hợp nhất và sáp nhập các doanh nghiệp nhỏ, có thể chọn hình thức liên doanh liên kết để tạo sức mạnh tổng hợp. Còn các DN ngoài quốc doanh có thể liên doanh với doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) để rút ngắn con đường hình thành tập đoàn.

Bên cạnh đó, tùy vào tình hình thực tiễn các bộ ngành và các địa phương cần chủ động kiến nghị với Chính phủ thành lập các tập đoàn kinh tế Nhà nước trên cơ sở hợp nhất, sáp nhập các DNNN hay các DN có cổ phần chi phối để hình thành nên tập đoàn kinh tế.

Anh Phương