Xây dựng báo cáo bền vững: “Chứng chỉ” hội nhập của doanh nghiệp

00:00:00 | 10/2/2014

Trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới đã và đang đẩy mạnh việc sử dụng Báo cáo Bền vững (BCBV) như một công cụ bắt buộc để đánh giá và quản lý việc thực hiện các trách nhiệm xã hội (TNXH) của doanh nghiệp (DN), đặc biệt là các DN sử dụng nhiều lao động và có quy mô vốn lớn, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam (DNVN) vẫn chưa hiểu vai trò của việc thực hiện BCBV đối với quá trình phát triển và hội nhập của chính DN mình. Phóng viên Tạp chí Vietnam Business Forum đã có cuộc phỏng vấn với ông Nguyễn Quang Vinh, Giám đốc Văn phòng DN vì sự phát triển bền vững (SD4B) về vấn đề này. Hương Ly thực hiện.

Xin ông lý giải nguyên nhân vì sao việc xây dựng báo cáo bền vững trở thành xu thế tất yếu trên thế giới trong thời gian qua?

Có thể thấy, thực hiện BCBV đang là xu thế tất yếu trên thế giới. Bởi lẽ, BCBV không chỉ là công cụ cải thiện hiệu quả kinh doanh, xác định cơ hội rủi ro... mà quan trọng hơn nó là “chứng chỉ” giúp nâng cao uy tín DN, chứng tỏ cam kết trong việc thực hiện TNXH của DN, đồng thời nâng cao lợi thế cạnh tranh của DN nhằm hướng tới sự PTBV.

Cụ thể, hiện đã có trên 600 tổ chức từ 65 quốc gia tham gia thực hiện sáng kiến báo cáo toàn cầu, trong đó 6 quốc gia tham gia nhiều nhất là: Úc, Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Phi và Mỹ. Nếu phân chia theo các châu lục thì châu Âu (chiếm 45%), châu Á 18%, Bắc Mỹ 14%, Mỹ Latinh 14%, châu Phi 5%.

Theo đó, đã có trên 30 quốc gia đưa ra 142 qui định pháp lý cho BCBV, trong đó 65% các qui định mang tính chất bắt buộc. Mặt khác, từ năm 2006 BCBV đã được nhiều quốc gia yêu cầu hoặc hướng dẫn tự nguyện cho các DN khi niêm yết trên sàn chứng khoán. Ngoài ra, hàng loạt sáng kiến về BCBV cũng đang được Liên Hợp quốc và các tổ chức thực hiện như: Mạng lưới Hiệp ước toàn cầu của Liên hiệp quốc (UNGC); Báo cáo DN bền vững toàn cầu năm 2013; Khung báo cáo tích hợp quốc tế (IIRC); Sáng kiến Báo cáo Toàn cầu (GRI)...

Trong bối cảnh kinh tế suy giảm, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam đang phải vật lộn với khó khăn, việc “hy sinh” nhiều lợi ích nhãn tiền cho mục tiêu bền vững, dành thêm chi phí để xây dựng BCBV liệu có được các doanh nghiệp “tự giác” chấp nhận?

Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức về phát triển bền vững như đói nghèo, đô thị hóa, khủng hoảng tài chính, biến động giá lương thực, năng lượng, biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên thiên nhiên... Trong bối cảnh ấy, báo cáo bền vững là một trong những công cụ hữu hiệu giúp theo dõi và đánh giá việc thực hiện chiến lược phát triển bền vững của DN. Báo cáo bền vững sẽ giúp các DN trở nên minh bạch hơn trong mắt các nhà đầu tư, các đối tác khác trong xã hội. Giá trị mà DN tạo ra được nhìn nhận đầy đủ hơn trên các bình diện sử dụng vốn kinh tế, tài chính, vốn tự nhiên và vốn xã hội.

Theo ông, tình hình thực hiện việc xây dựng BCBV tại Việt Nam thời gian qua như thế nào?

Trong những năm qua, PTBV đã được lồng ghép trong hàng loạt các Chính sách, được luật hoá trong các Luật, Bộ Luật, các văn bản qui phạm pháp luật... Vì vậy, việc thực hiện PTBV đã được các DN phản ánh phần nào vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên để thực hiện và báo cáo riêng về PTBV thì vẫn còn là một khái niệm tương đối mới với các DNVN.

Vừa qua, Hội đồng DN vì sự PTBV (VBCSD) –VCCI đã tiến hành khảo sát 150 doanh nghiệp tiêu biểu đại diện cho các ngành như: Năng lượng, sản xuất, kinh doanh tại VN về chủ đề PTBV. Kết quả cho thấy, có tới trên 50% DN cho biết chưa biết đến hoặc không biết đến BCBV là gì, 44% DN biết đến BCBV nhưng chưa sâu. Mặc dù vậy, điều đáng mừng là cho dù hiểu biết còn hạn chế song phần lớn DN đều có mong muốn tìm hiểu và có kế hoạch thực hiện BCBV trong thời gian tới.

Thời gian vừa qua, một số tập đoàn, DN có qui mô hoạt động sản xuất, kinh doanh lớn như Tập đoàn Bảo Việt, Vinamilk, FPT...cũng đã hiểu, áp dụng và công bố BCBV có thể xem là những điển hình để các DN tham khảo.

Với kinh nghiệm của mình, xin ông chia sẻ những giải pháp để nhanh chóng “phổ cập” việc xây dựng BCBV đến cộng đồng doanh nghiệp?

Để thực hiện tốt quá trình này chúng tôi đã đề xuất xây dựng một lộ trình áp dụng BCBV tại các DNVN. Kinh nghiệm thế giới cho thấy nên chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn tự giác và giai đoạn bắt buộc. Các DN lớn cần bắt đầu trước(Giai đoạn tự giác: 2014-2015; giai đoạn bắt buộc từ 2016), các DN nhỏ và vừa tiến hành sau (Giai đoạn tự giác: 2014-2019, giai đoạn bắt buộc từ 2020 trở đi). Ngoài ra, các khóa đào tạo do VBCSD phối hợp với GRI thực hiện tại Hà Nội và TP HCM cũng cho thấy một số DN trên sàn niêm yết đang thể hiện mối quan tâm rất cao tới vấn đề này.

Thứ hai, Chính phủ cần có chính sách hỗ trợ khuyến khích các DN thực hiện BCBV về thuế, điều kiện vay vốn, đầu tư… Có các hình thức khen thưởng, vinh danh.

Thứ ba, giao VBCSD phối hợp với Hội đồng Quốc gia về Phát triển Bền vững và Nâng cao Năng lực cạnh tranh, Bộ Công thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, và các tổ chức quốc tế tổ chức các khóa huấn luyện xây dựng BCBV.

Thứ tư,VBCSD hỗ trợ các doanh nghiệp chuẩn bị và quảng bá BCBV trên các khung BCBV quốc tế như GRI, IIRC, các quy tắc của UNGC và tiến tới xây dựng cơ sở dữ liệu báo cáo bền vững của Việt Nam.

Thứ năm,VBCSD phối hợp với các bộ ngành liên quan và các tổ chức quốc tế Xây dựng bộ chỉ số về BCBV, tiến hành xếp hạng bền vững DN hàng năm, bước đầu đối với các DN niêm yết.