10:16:27 | 10/1/2012
Trao đổi với phóng viên Tạp chí Vietnam Business Forum, Bà Nguyễn Thị Nga – Chủ tịch HĐQT Ngân hàng TMCP Đông Nam Á khẳng định “Chính sách tiền tệ và tài khóa thắt chặt là cần thiết trong giai đoạn hiện nay, và về lâu dài lại có tác dụng như một liều thuốc trị liệu những căn bệnh trầm kha của khối doanh nghiệp Việt Nam”. Anh Sơn thực hiện.
Cuộc khủng hoảng tài chính kéo dài đã khiến nhiều doanh nghiệp Việt Nam điêu đứng, kiệt quệ về nguồn vốn để tổ chức sản xuất kinh doanh. Theo bà đâu là nguyên nhân cơ bản của tình trạng này?
Như chúng ta đã biết, đợt suy thoái toàn cầu lần này bắt nguồn từ Hoa Kỳ với cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn. Tiếp theo đó, chúng ta đang chứng kiến nhiều nền kinh tế lớn tại Châu Âu lâm vào tình trạng khó khăn với những gánh nặng về nợ quốc gia và thâm hụt ngân sách. Trong bối cảnh như vậy, Kinh tế Việt Nam cũng bị ảnh hưởng do những tác động từ bên ngoài và những bất cập nội tại.
Nhóm nguyên nhân đầu tiên của tình trạng hiện nay vẫn là bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu. Việt Nam là một nền kinh tế có độ mở rất lớn với tỷ lệ xuất nhập khẩu trên GDP lên đến 170% và còn đang tài trợ một phần rất đáng kể đầu tư phát triển bằng những nguồn vốn bên ngoài như FDI, ODA, ... nay thị trường xuất khẩu của chúng ta gặp khó khăn (Hoa Kỳ, EU), lạm phát đang gia tăng tại các nước châu Á – Thái Bình Dương – các thị trường chính của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam, nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài chậm lại do các nhà đầu tư còn đang đối phó với khủng hoảng tại chính quốc thì chúng ta không thể không bị ảnh hưởng tiêu cực.
Về mặt nội tại, tình hình tài chính Việt Nam đã xuất hiện những bất ổn đầu tiên vào năm 2007 do đầu tư trực tiếp và gián tiếp từ nước ngoài gia tăng đột biến sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Khi chúng ta nhận ra vấn đề và có những biện pháp thắt chặt tiền tệ để đối phó thì cơn bão khủng hoảng tài chính từ Hoa Kỳ ập đến và toàn thế giới phải đưa ra các chương trình kích cầu. Chính phủ Việt Nam đã rất thành công với gói kích cầu trị giá 8 tỷ USD khi đã chặn đứng lại đà suy giảm tăng trưởng GDP vào năm 2009. Tuy nhiên, đến năm 2011 thì chúng ta lại phải đối mặt với một làn sóng biến động tài chính nữa đến từ Châu Âu, trong khi tác dụng phụ của gói kích cầu trước đây đã bộc lộ với tỷ lệ lạm phát gia tăng. Chính sách tiền tệ chặt chẽ làm cho những bất cập của nền kinh tế như tỷ lệ tổng đầu tư toàn xã hội trên GDP so với chỉ số tăng trường của năm đó (ICOR ) ngày càng cao do hiệu quả đầu tư công, hiệu quả doanh nghiệp nhà nước thấp, hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng bị ảnh hưởng trực tiếp từ chính sách tiền tệ chặt chẽ và nhất là từ hiệu quả kinh doanh kém của khối doanh nghiệp dẫn đến tồn kho tăng nhanh và nợ xấu gia tăng.
Tuy nhiên, bức tranh tổng thể của Kinh tế Việt Nam có những điểm sáng rất đáng khích lệ: tăng trưởng GDP dự kiến vẫn đạt xấp xỉ 6% năm 2011, lạm phát đã có xu hướng giảm tốc, cán cân thương mại và cán cân thanh toán tổng thể đã có bước cải thiện đáng kể, thâm hụt ngân sách cũng đã giảm một bước.
Tôi tin rằng những gì chúng ta đạt được năm 2011 là rất đáng khích lệ và chúng ta bước vào năm 2012 với thời điểm khó khăn nhất đã là quá khứ.
Bà đánh giá thế nào về những tác động của chính sách tài chính, ngân hàng đối với hệ thống doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn vừa qua?
Chính sách tiền tệ thắt chặt ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống ngân hàng, qua đó nguồn cung của hệ thống bị thắt chặt. Các doanh nghiệp Việt Nam đối mặt với nguồn cung hạn chế, giá vốn (lãi suất) cao nên chắc chắn sẽ gặp khó khăn. Một số ngành như xây dựng, bất động sản, vật liệu xây dựng, còn gặp khó hơn nữa do việc tiết giảm đầu tư công và hạn chế cho vay bất động sản... Đó đều là những khó khăn đáng kể trước mắt và không thể tránh khỏi luôn đồng hành với quá trình tái cơ cấu nền kinh tế.
Tuy vậy, chính sách tiền tệ và tài khóa thắt chặt là cần thiết trong giai đoạn hiện nay, và về lâu dài lại có tác dụng như một liều thuốc trị liệu những căn bệnh trầm kha của khối doanh nghiệp Việt Nam. Các doanh nghiệp vượt qua được giai đoạn này sẽ lành mạnh hơn, hiệu quả hơn và chuẩn bị sẵn sàng cho một chu kỳ tăng trưởng mới. Với chính sách tài khóa và tiền tệ hợp lý chắc chắn kinh tế vĩ mô của Việt Nam sẽ được cải thiện, lạm phát, nhập siêu, hiệu quả đầu tư tăng và đó sẽ là những cơ sở vững chắc cho doanh nghiệp Việt Nam phát triển một cách bền vững.

Rất nhiều doanh nghiệp đang khốn đốn vì không vay được vốn sản xuất kinh doanh dẫn đến nguy cơ phá sản, và hàng triệu người lao động có nguy cơ mất việc làm và thu nhập, theo Bà thì cần có những biện pháp gì để giúp cho hệ thống doanh nghiệp có thể chống đỡ và lấy lại sức phát triển trong bối cảnh hiện nay?
Thứ nhất, tổng dư nợ trên thị trường vẫn tăng trưởng và dự kiến tăng trên 10% trong năm 2011, xuất khẩu dự kiến tăng trên 30%, tăng trưởng xấp xỉ 6% là con số dự báo cho GDP. Ngoài ra, số liệu chính thức cho thấy tỷ lệ thất nghiệp tại Việt Nam vẫn không có sự gia tăng đột biến nào. Thứ 2, về mặt tiêu dùng thì tổng doanh số bán lẻ vẫn tăng kể cả sau khi đã loại bỏ tác động của lạm phát.
Qua đây, có thể khẳng định là bức tranh không hoàn toàn một gam màu tối như các bạn mô tả. Đúng là có một số doanh nghiệp gặp khó khăn, một số ngành gặp khó khăn như tôi đã nói ở trên, nhưng không thể coi đó là gam màu chủ đạo.
Trong giai đoạn này, Chính phủ cũng đã chỉ đạo các ngân hàng tập trung nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh, cho xuất khẩu, cho phát triển nông nghiệp, nông thôn. Các doanh nghiệp cũng đã được hưởng một số chính sách ưu đãi như giảm thuế. Đó là những biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam vượt qua được những khó khăn trước mắt và tôi nghĩ rằng dư địa cho các biện pháp hỗ trợ ưu đãi cũng không còn nhiều.
Cái chúng ta cần hiện tại là những chính sách dài hạn giúp các doanh nghiệp và cả nền kinh tế Việt Nam tái cơ cấu mạnh mẽ, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tiết kiệm chi phí, tiết kiệm nguyên nhiên liệu, nâng cao năng suất lao động, giảm ô nhiễm môi trường...
Với vai trò chủ tịch SeABank, Bà có thể cho biết những chính sách của SeABank về tín dụng, ngân hàng đối với các doanh nghiệp trong thời gian tới?
SeABank mong muốn trở thành ngân hàng bán lẻ tiêu biểu của Việt nam với khách hàng trọng tâm là các cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong điều kiện hiện tại, chúng tôi dành phần lớn dư địa về tín dụng phục vụ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ gia đình sản xuất và kinh doanh, đẩy mạnh tài trợ xuất nhập khẩu.
Trong thời gian này, chúng tôi đang triển khai chương trình hỗ trợ doanh nghiệp Xuất khẩu với lãi suất ưu đãi, điều kiện tín dụng thông thoáng và những ưu đãi đặc biệt về phí dịch vụ. Chúng tôi rất vui mừng nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của các bộ, ban, ngành, các doanh nghiệp trên toàn quốc và cầm chắc là sẽ đạt được nhiều thành công mà chương trình hướng đến.
Sang năm 2012, SeABank sẽ tiếp tục chính sách đồng hành với khách hàng để cùng phát triển bền vững, tập trung vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh đang được Chính phủ ưu tiên phát triển.
Bà có thể chia sẻ một vài kinh nghiệm về chính sách tài chính trong doanh nghiệp để các doanh nghiệp phát triển bền vững và ổn định?
Trong giai đoạn khó khăn như hiện nay, các doanh nghiệp phải thật sự thận trọng. Các doanh nghiệp cũng cần sử dụng nguồn vốn một cách tiết kiệm, hạn chế đầu tư mới, đầu tư trọng điểm và thời gian thu hồi vốn nhanh. Các mối quan hệ đối tác đã có cần phải được củng cố và mở rộng.
Ngoài ra, trong bối cảnh hiện tại, các doanh nghiệp muốn phát triển bền vững cũng cần quan tâm đến việc ổn định, giữ nguồn nhân lực trình độ cao, tranh thủ đào tạo cho tương lai.