Thước đo sức khỏe doanh nghiệp

09:14:03 | 16/1/2012

Một trong những nguyên tắc của WTO mà các quốc gia muốn gia nhập là phải công khai minh bạch thông tin. Nếu việc công khai thông tin được luật hóa thì hệ thống thông tin DN sẽ được cập nhật và minh bạch hóa, hạn chế các thông tin cửa sau. Tại Việt Nam, bước đầu đã có thông tin về xếp hạng tín nhiệm với mục tiêu cung cấp những thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư, kinh doanh cũng như các nhà hoạch định chính sách những thông tin hữu ích nhằm giảm thiểu tổn thất do rủi ro mang lại để phát triển.

Trên thế giới, việc công bố các chỉ số tín nhiệm của quốc gia, tổ chức hay DN đã trở thành hoạt động thường xuyên. Đã có nhiều tổ chức có uy tín trong việc công bố và xếp hạng tín nhiệm (XHTN) như: Standard & Poor's, Moody's hay Fitch...

Có được sự đánh giá và xếp hạng đạt tiêu chuẩn có nghĩa là DN có được “tấm hộ chiếu” để quốc tế hoá thương hiệu và cạnh tranh. Trên thực tế đã có một số DN trong ngành bảo hiểm, ngân hàng VN được các tổ chức XHTN hàng đầu trên thế giới như A.M. Best, Fitch Ratings đánh giá. Với các kết quả này, các DN có thể “tự tin” khẳng định thương hiệu của mình cùng với các tập đoàn tài chính lớn trên thế giới.

Cấu trúc của " Chỉ số tín nhiệm Việt Nam"

Nếu chỉ căn cứ vào định nghĩa về xếp hạng tín nhiệm là đánh giá về khả năng một nhà phát hành có thể thanh toán đúng hạn cả gốc lẫn lãi đối với một loại chứng khoán nợ trong thời gian tồn tại của nó, thì chỉ cần công ty xếp hạng tín nhiệm công bố bản xếp hạng doanh nghiệp là đủ. Điều này có đúng không? Nếu điều đó là đúng thì việc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Công ty Cổ phần Xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp Việt Nam (CRV) công bố báo cáo gồm:

- Kinh tế Việt Nam năm 2010

- Chỉ số cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam năm 2010-2011

- Năng lực tài chính của một số ngành định hướng xuất khẩu

-Năng lực tài chính của 100 doanh nghiệp lớn và một số ngân hàng Việt Nam

- Xếp hạng tín nhiệm của các doanh nghiệp trên sàn chứng khoán,

Câu trả lời khẳng định là việc cung cấp bản xếp hạng doanh nghiệp là chưa đủ cho các nhà đầu tư, công ty bảo hiểm, nhà hoạch định chính sách. Chúng ta hãy nhìn vào sự kiện đang nóng hổi hiện nay về cuộc khủng hoảng nợ công ở một số nước châu Âu đã có ảnh hưởng rất nhiều đến kinh tế thế giới và việc hạ mức tín nhiệm của một số quốc gia đã làm cho thị trường chứng khoán trên thế giới trở lên chao đảo, không kể xếp hạng tín nhiệm đối với các công ty ở nước bị đánh tụt hạng. Điều này giả thích rằng các nhân tố vĩ mô có vai trò rất lớn đối với thị trường chứng khoán. Nghiã là CRV đã tiến hành tiếp cận đi từ trên xuống: trước tiên là cung cấp cho ta bức tranh toàn cảnh vễ diễn biến kinh tế vĩ mô nói chung, sau đó là tình hình hoạt động tài chính của ngành và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua chỉ số tiến bộ công nghệ của 100 doanh nghiệp điển hình.

Trong "Chỉ số tín nhiệm Việt Nam", mỗi phần đều có các tiếp cận cho phù hợp với yêu cầu nhưng luôn luôn kết hợp cả định tính và định lượng. Riêng phần xếp hạng các doanh nghiệp trên sàn, CRV đã kết hợp cả phân tích định tính và các phương pháp định lượng như các mô hình xác suất tuyến tính, mô hình logit, mô hình probit, và các mô hình phân tích biệt. Đó là các kỹ thuật thống kê chuẩn tắc để ước lượng xác suất mất khả năng thanh toán dựa trên dữ liệu quá khứ về hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Những kỹ thuật này khác nhau ở chỗ mô hình xác suất tuyến tính giả định có tồn tại mối quan hệ tuyến tính giữa xác suất mất khả năng thanh toán với các nhân tố; còn mô hình logit giả định xác suất mất khả năng thanh toán có phân phối logistic; và mô hình probit giả định xác suất mất khả năng thanh toán có phân phối chuẩn (tích lũy). Phân tích biệt số khác ở chỗ thay vì ước lượng xác suất mất khả năng thanh toán, nó chia những doanh nghiệp thành các lớp doanh nghiệp có rủi ro mất khả năng thanh toán cao và thấp.

Cung cấp thông tin hữu ích

Những nội dung đã được trình bày trong "Báo cáo thường niên chỉ số tín nhiệm Việt Nam năm 2011" đã mang lại thông tin gì và cho ai?

Những phân tích về tình hình kinh tế vĩ mô, những chỉ số đo tính dễ tổn thương của nền kinh tế, sự thay đổi thứ hạng cạnh tranh của nền kinh tế và chỉ số hoạt động tài chính của các ngành định hướng xuất khẩu và chỉ số tiến bộ tiến bộ công nghệ của 100 doanh nghiệp lớn và một số ngân hàng cũng như xếp hạng doanh nghiệp trên sàn chứng khoán cung cấp cho các nhà quản lý ở Trung ương, các bộ ngành một bức tranh hoàn chỉnh về tình hình chung. Điều đáng nói ở đây là nó gắn kết được các chỉ số vĩ mô chung cũng như chỉ số của ngành và thứ hạng của doanh nghiệp thành một thể thống nhất để cơ quan Trung ương có một cái nhìn một cách đầy đủ từ trên xuống , giúp cho các cơ quan này có thể tìm ra các giải pháp thích hợp để thúc đẩy sự phát triển và hoạt động của các ngành và doanh nghiệp. Nó cũng giúp cho có thể thấy được hiệu quả của việc sáp nhập hay giải thể doanh nghiệp.

Đối với các doanh nghiệp được xếp hạng cao nghĩa là CRV bằng phương pháp của mình và dữ liệu thu thập được đánh giá về khả năng nhà phát hành có thể hoàn thành tốt nghĩa vụ nợ như vậy họ có thể có thuận lợi để phát hành và tham gia vào những thị trường khác với chi phí thấp..

Đối với những doanh nghiệp bị xếp hạng thấp là sự cảnh báo, nhắc nhở họ cần phải hoạt động tốt hơn .

Đối với các nhà đầu tư thì đây là một bức tranh khá tốt theo cách tiếp cận từ trên xuống nghĩa là nhà đầu tư có các thông tin vĩ mô cần thiết, thông tin về ngành và cuối cùng thông tin về doanh nghiệp. Những thông tin này sẽ rất hữu ích cho họ khi ra quyết định.

CRV sẽ cung cấp chỉ số tín nhiệm 2012 trên cơ sở cải biên những nội dung năm 2011 cho phục vụ tốt hơn cho người đọc và đặc biệt trong lần xuất bản này thì nó sẽ bao gồm 2 thứ tiếng ( Việt và Anh) để giới thiệu với cả nhà đầu tư nước ngoài.

Tóm lại CRV cung cấp ấn phẩm mang lại thông tin nhằm góp phần làm minh bạch hóa thị trường và những thông tin này không chỉ hữu ích đối với nhà đầu tư mà cả đối với các ngân hàng, các công ty bảo hiểm và các cơ quan quản lý nhà nước.

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Khắc Minh – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Chủ tịch Hội đồng biên tập Báo cáo Chỉ số tín nhiệm doanh nghiệp