06:58:07 | 3/4/2012
Mới đây, tại hội thảo chuyên đề “Hướng tới một khung khổ chính sách kinh tế vĩ mô cho Việt Nam trong trung và dài hạn” các chuyên gia của Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) cho rằng, việc cải cách khối doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) là rất quan trong nhung không thể “ luôn và ngay” được.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) cho rằng, những bất ổn trong nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua chủ yếu là do ba nguyên nhân chính. Thứ nhất, cải cách kinh tế trong nước đã không theo kịp với sự hội nhập quốc tế. Việt Nam thiếu một khu vực tư nhân mạnh, một thị trường tài chính sâu và lành mạnh trong khi thị trường nội địa thiếu tự do hóa; Thứ hai, sai lầm trong việc đưa ra các lựa chọn chiến lược nhằm thích ứng với quá trình hội nhập đã dẫn đến nguồn lực quốc gia bị phân bổ sai, chủ yếu cho khối doanh nghiệp nhà nước, làm giảm năng suất toàn bộ nền kinh tế; Thứ ba, những nỗ lực hội nhập và duy trì tăng trưởng kinh tế trong khi năng suất nền kinh tế tăng chậm hoặc không tăng đã dẫn đến lạm dụng chính sách tiền tệ, tài khóa và sau đó là hành chính; do đó càng làm cho nguồn lực bị phân bổ méo mó.

Ông Thành cho rằng, trong khi nền kinh tế đang gặp phải những khó khăn nội tại trên thì các chính sách vĩ mô của chính phủ trong ngắn hạn và trung hạn lại chưa thể hiện được rõ ràng mục tiêu ưu tiên. Ngoài ra, ngay cả trong bối cảnh chịu áp lực cổ phần hóa thì tỉ lệ doanh số của 10 đại tập đoàn kinh tế Việt Nam trên GDP vẫn thuộc loại lớn nhất thế giới. Cụ thể, tỷ lệ này của Việt Nam lên tới 37,3%, chỉ đứng sau Hàn Quốc thời gian trước khủng hoảng, còn lại đều vượt xa các nước khác nhu Trung Quốc (9,4%), Đài Loan (19%), Indonesia (25%), Brazil (8%), Argentina (11%) và Mexico (10%).
Trong khi đó, xét về mức độ phân tán/tập trung của các tập đoàn nhà nước thì Việt Nam cũng xếp vào hàng “vô địch”. Nếu ở Việt Nam, điểm số này là 6,4 thì Hàn Quốc chỉ là 1,7; Indonesia là 2,1; Philippines là 3,1, thậm chí Trung Quốc cũng chỉ mức 2,3.
Do đó theo Tiến sĩ Thành, nhiệm vụ tái cơ cấu nền kinh tế lúc này cần nhắm vào ba trụ cột chính là cải cách chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và doanh nghiệp nhà nước, trong đó cải cách khối doanh nghiệp nhà nước là một nội dung đặc biệt quan trọng. Riêng với khu vực kinh tế quốc doanh cần chuyển dần từ vai trò chủ đạo sang dẫn dắt, tạo lập thị trường và chuyển tiếp cho khu vực tư nhân. Nhà nước cần chủ động lái các nguồn lực chủ chốt trong nền kinh tế vào khu vực kinh tế tư nhân, thay vì tập trung hóa cho các doanh nghiệp nhà nước lớn. Ngoài ra, tự thân các doanh nghiệp nhà nước sẽ không duy trì vai trò chủ đạo mà cần chủ động rút lui khỏi thị trường thông qua một lộ trình cổ phần hóa minh bạch và rõ ràng.
Trước thực trạng này, theo nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển, một thực trạng hiện nay là khu vực tư nhân còn bị chèn ép và điều kiện phát triển vẫn còn khó khăn. Trong khi các đại tập đoàn nhà nước đã tạo ra cái bóng rất lớn bao phủ nền kinh tế. Hay nói cách khác, việc đầu tư tràn lan trên nhiều lĩnh vực ra nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau của doanh nghiệp nhà nước vẫn là một vấn đề cần được quan tâm nhiều hơn. Tuy nhiên, với quy mô và độ phủ lớn như vậy nhưng hệ số ICOR (hệ số sinh lợi từ dòng vốn đầu tư) của khu vực doanh nghiệp nhà nước lại cao hơn gấp đôi khu vực ngoài nhà nước, phản ánh hiệu quả đầu tư thấp.
Theo quan điểm của TS Deepark Mishra, chuyên gia kinh tế trưởng World Bank Vietnam, tuy Chính phủ Việt Nam cũng như các bộ ngành đã phần nào nhìn ra rằng cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước và dành ưu tiên nhiều hơn cho khu vực tư nhân là nhiệm vụ tất yếu, song ông cũng lưu ý, hoạt động tái cơ cấu cần được thực hiện từng bước, không thể “luôn và ngay” được. Và quá trình cải cách này sẽ chỉ thành công khi thực sự khu vực doanh nghiệp tư nhân đã thực sự trở nên lớn mạnh, trưởng thành hơn. Còn trong điều kiện hiện tại thì vẫn cần sự điều tiết hoạt động của nhà nước.
Còn theo chuyên gia kinh tế Vũ Đình Ánh nhìn nhận, hiện vấn đề “chia việc” giữa khu vực tư nhân và khu vực Nhà nước cũng cần có những chú ý, nguyên tắc nhất định vì do lực lượng tư nhân chưa có nhiều nguồn lực, nên không phải những gì Nhà nước mong muốn xã hội hóa thì tư nhân đều có thể đáp ứng được. Sự tham gia của tư nhân ngày càng chiếm vị trí quan trọng, nhưng cũng phải từng bước chứ không thể ngay lập tức. Thực tế, tỷ trọng đầu tư công đang dần tập trung vào khối doanh nghiệp tư nhân. Nếu như trong giai đoạn 2001 – 2005, tỷ trọng của đầu tư nhà nước chiếm 53,4% tổng đầu tư toàn xã hội, khối tư nhân chiếm 32,6% thì đến giai đoạn 2011-2015, dự kiến, tỷ trọng đầu tư công sẽ giảm xuống còn 37- 39% còn khối tư nhân sẽ tăng đóng góp lên 45- 46%. Hy vọng trong tương lai, khối doanh nghiệp tư nhân sẽ thực sự trưởng thành và chia sẻ công việc với khu vực kinh tế nhà nước để kinh tế Việt Nam phát triển bền vững hơn..
Anh Phương