Phát triển kinh tế bền vững bằng “GDP xanh”

06:37:38 | 9/4/2012

Mới đây, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đã tổ chức Hội thảo Khung phương pháp xây dựng chỉ số GDP xanh cho Việt Nam. Xung quanh chủ đề trên, phóng viên Vietnam Business Forum đã có cuộc trao đổi với bà Vũ Xuân Nguyệt Hồng, Phó Viện trưởng CIEM, nhằm làm rõ một tiêu chí đánh giá mới cho nền kinh tế Việt Nam. Anh Phương thực hiện.

Thưa bà, chỉ số “GDP xanh” có phải là một chỉ số mới để đánh giá mức độ phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua ?

Thực tế, đây không hẳn là một tiêu chí mới để đánh giá sức khỏe của nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, thay vì cách tính GDP thông thường, tới đây, theo quyết định số 43/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, chỉ số “ GDP xanh” sẽ được đưa vào trong hệ thống chỉ tiêu KT XH quốc gia đến năm 2014. Do vậy, có thể hiểu GDP xanh là chỉ số được tính bằng cách lấy chỉ số GDP truyền thống trừ đi các chỉ số về cạn kiệt tài nguyên và thiệt hại do ô nhiễm môi trường. Cái khó trong việc xác định chỉ số này chính là hai tham số cạn kiệt tài nguyên và thiệt hại do ô nhiễm môi trường.

Vậy trên thế giới tiêu chí “GDP xanh” đã được hình thành như thế nào ?

Ngay từ những năm 70 của thế kỷ XX, một số quốc gia phát triển trên thế giới như Na Uy, Pháp, Phần Lan đã có nhiều nỗ lực để xây dựng một cơ chế tích hợp các thiệt hại về môi trường và suy giảm tài nguyên thiên nhiên vào hạch toán kinh tế quốc gia. Đến năm 1993, Liên Hợp Quốc và WB đã phối hợp xây dựng phương pháp luận cho việc xây dựng các tài khoản tự nhiên và môi trường và công bố một bản hướng dẫn về hệ thống hoạch toán kinh tế và môi trường tổng hợp - SEEA 1993, và văn bản này được sửa đổi vào năm 2003. Đó chính là tiền đề để CIEM nghiên cứu và tìm ra cách tính chỉ số “GDP xanh” phù hợp nhất trong điều kiện kinh tế của Việt Nam hiện nay.

Có ý kiến cho rằng, chỉ số “GDP xanh” sẽ là một công thức đánh giá lại sự phát triển kinh tế quá nóng của Việt Nam trong thời gian vừa qua. Quan điểm của bà về vấn đề này ra sao ?

Thực tiễn cho thấy, trong một thời gian dài vừa qua nền kinh tế Việt Nam có được sự tăng trưởng nhanh và được bạn bè thế giới đánh giá cao. Tuy nhiên, nhìn nhận ở góc độ phát triển bền vững và yếu tố môi trường trong một thập kỷ vừa qua sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam chủ yếu dựa vào việc tận dụng khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có dồi dào của đất nước. Tăng trưởng phần lớn tập trung vào các ngành công nghiệp gây ô nhiễm và có cường độ sử dụng năng lượng cao.

Trong khi đó, các tài khoản quốc gia (SNA), hiện chưa hạch toán chi phí môi trường hoặc không đo lường đầy đủ đóng góp của môi trường. Một cảnh báo sớm, có tính cấp thiết của các chuyên gia kinh tế trong giai đoạn hiện nay đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam đang được nhắc đến nhiều là. Chính việc sử dụng chỉ số GDP truyền thống có thể sẽ dẫn đến chính sách tăng trưởng, tập chung tất cả nguồn lực vào tăng trưởng bằng bất cứ giá nào.

Theo bà, đề án xây dựng chỉ số “GDP xanh” liệu có khả thi, khi mà Chính phủ và nhiều bộ ngành từ Trung ương đến địa phương còn khá xa lạ với khái niệm này ?

Đề án xây dựng chỉ số “GDP xanh” với sự tài trợ của Bộ Ngoại giao Vương quốc Anh từ tháng 7 năm 2011 đến tháng 3 năm 2012, các chuyên gia của CIEM và Tổng cục Thống kê đã và đang gấp rút xây dựng phương pháp tính chỉ số “GDP xanh”. Và sau chín tháng nghiên cứu, khung phương pháp xây dựng chỉ số GDP cho Việt Nam này đã hình thành. Tuy nhiên, để được coi là một tiêu chi hạch toán môi trường quốc gia thì vẫn còn là mới cả với nhà hoạch định chính sách lẫn thống kê Việt Nam. Do đó để có lộ trình để đưa bộ tiêu chí này vào áp dụng thực tiễn thì phải trải qua một số khâu như: xây dựng một khuôn khổ phương pháp; chuẩn bị thông tin dữ liệu; phát triển nguồn nhân lực để thực hiện hạch toán xanh.

Vậy Việt Nam nên tập trung tính toán những nguồn dữ liệu nào ?

Hiện tại, theo sự đánh giá đồng thuận của nhiều chuyên gia trong nước và quốc tế, Việt Nam có thể áp dụng khung hoạch toán môi trường quốc tế và trước hết nên tập trung vào các tài khoản quan trọng như tài nguyên thiên nhiên bao gồm: năng lượng không tái tạo như dầu khí, than, khí đốt và tài khoản gây ô nhiễm, tài khoản chi tiêu công cho môi trường. Trong đó, tài khoản rừng nên được ưu tiên làm trước.

Tại sao lại ưu tiên tính toán tài khoản rừng, thưa bà ?

Đơn giản, bởi tài khoản rừng dễ làm hơn so với các tài khoản khác như tài khoàn khoáng sản, tài khoản năng lượng. Trong khi thậm chí một số tài khoản năng lượng còn ẩn chứa nhiều điều kiện bí mật quốc gia.

Trong quá trình thực hiện dự án, nhóm nghiên cứu có gặp phải khó khăn lớn nào ?

Hiện tại theo tính toán của riêng chúng tôi, vẫn còn nhiều khoảng trống dữ liệu và những khó khăn trong việc biên soạn các tài khoản môi trường. Cụ thể, vẫn tồn tại khoảng trống trong cách tính giữa GDP bên cung và bên cầu, chưa có ngành thể hiện chi phí về tái sử dụng chất thải, thiếu ma trận hệ số chất thải trực tiếp và trữ lượng tài nguyên thiên nhiên, thiếu hệ số chi phí theo các loại chất thải... Do đó, để có được một bộ chỉ số tính toán “GDP xanh” hoàn chỉnh vào năm 2014, cần có sự chung tay vào cuộc của chính phủ cũng như bộ ngành liên quan. Tránh tình trạng tăng trưởng quá nhanh, quá nóng như ở Trung Quốc từ 9-11% mỗi năm, nhưng sau khi tính toán lại quốc gia này đã mất đi 15% GDP vì ô nhiễm môi trường. Và đó cũng là bài học đối với Việt Nam để chúng ta sớm nhận thức được tầm quan trọng của chỉ số “GDP xanh” này.