“Kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng trên nền tảng lạm phát được kiềm chế”

10:30:33 | 11/5/2012

Nhằm giúp DN ứng phó với khó khăn về tiếp cận vốn trong giai đoạn hiện nay, NHNN đã chính thức giảm trần lãi suất huy động cũng như khống chế trần lãi suất cho vay không vượt quá 3% huy động. Cùng với những động thái giảm bớt khó khăn cho DN từ phía Chính phủ, VCCI cũng đã khẳng định được uy tín và vai trò của mình đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, Chính phủ và các tổ chức quốc tế trong công tác xúc tiến thương mại và đầu tư; mở rộng quan hệ hợp tác… Để tìm hiểu thêm về những hoạt động của VCCI trong nỗ lực góp phần thúc đẩy kinh tế Việt Nam thoát khỏi khó khăn, Vietnam Business Forum đã có buổi trao đổi với bà Nguyễn Thị Nga – một trong những thành viên quan trọng trong Ban Chấp hành VCCI, Chủ tịch Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đông Nam Á (SeABank). Đỗ Sơn thực hiện.

Với vai trò là một thành viên quan trọng trong Ban chấp hành VCCI, bà có đánh giá gì về vai trò và trách nhiệm của VCCI đối với công tác xúc tiến thương mại, đầu tư quốc gia và đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam?

Trong gần 50 năm qua, uy tín và vai trò của VCCI trong hoạt động xúc tiến thương mại đã được khẳng định trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, Chính phủ và các tổ chức quốc tế. Kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO, VCCI đã thể hiện vai trò tích cực của mình trong việc hỗ trợ cho các doanh nghiệp mở rộng quan hệ, hợp tác, liên doanh, liên kết với các đối tác nước ngoài ở mọi lĩnh vực.

Các hoạt động xúc tiến thương mại cần tập trung theo định hướng xuất khẩu và xúc tiến thương mại thị trường trong nước:

Về định hướng xuất khẩu, xác định 8 thị trường trọng điểm là Mỹ, châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản, ASEAN, Ấn Độ, châu Phi, Trung Đông - Nam Á. Việc XTTM thành công ở các thị trường này sẽ giúp hoàn thành mục tiêu xuất khẩu năm 2012. Theo thống kê, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của tổng xuất khẩu vào 8 đối tác thương mại chủ chốt của Việt Nam là 23,5%. Một số quốc gia tại khu vực châu Á ngày càng trở nên quan trọng hơn đối với xuất khẩu của Việt Nam với mức tăng trưởng xuất khẩu trung bình hàng năm đạt 26,3%.

Định hướng thứ 2 của Chương trình XTTM Quốc gia là giữ vững sân nhà, tiếp tục khai thác và phát triển thị trường nội địa, góp phần tích cực tiếp cận người tiêu dùng tại thị trường trong nước, tích cực hưởng ứng cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”.

Bên cạnh đó, công tác xúc tiến thương mại cũng cần tập trung hỗ trợ các doanh nghiệp thiết lập và phát triển hệ thống kênh phân phối hàng Việt Nam từ vùng sản xuất đến các khu vực tiêu thụ, kể cả biên giới, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và hải đảo, đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa qua con đường buôn bán biên giới, sang khu vực biên giới và thị trường của các nước láng giềng, dành kinh phí tổ chức các hội chợ triển lãm mang tính chất vùng, miền, góp phần tích cực giúp các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, quảng bá tới người tiêu dùng những sản phẩm, dịch vụ chất lượng tốt, mẫu mã đa dạng, phong phú, giá cả hợp lý…

Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị đã góp phần tiếp thêm sức mạnh mới cho VCCI, vậy theo bà, VCCI cần làm gì để tận dụng tốt nhất lợi thế đó, đồng thời đáp ứng được kỳ vọng mà cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đã tin tưởng giao phó?

Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị không chỉ ghi nhận vai trò, vị trí của doanh nhân mà còn thể hiện sự quan tâm của Đảng đối với những doanh nhân Việt Nam. Nghị quyết được ban hành là kim chỉ nam trong hoạt động của các doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và cạnh tranh gay gắt như hiện nay để các doanh nhân Việt Nam luôn trở thành lực lượng xung kích, chủ lực trong việc phát triển kinh tế xã hội.

Từ khi Nghị quyết ra đời, VCCI đã triển khai việc truyền đạt và quảng bá rộng rãi nội dung của Nghị quyết đến cộng đồng các doanh nghiệp, doanh nhân nhằm giúp họ hiểu rõ và có thêm động lực cùng phấn đấu góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế chung của đất nước. Tuy nhiên, với vai trò là cầu nối với các doanh nghiệp Việt Nam, VCCI cần tăng cường tiếp xúc với các hiệp hội ngành nghề nhằm nhanh chóng nắm bắt những thông tin, tình hình thực tế khó khăn của doanh nghiệp để có ý kiến, đề xuất các giải pháp với Chính phủ hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp. VCCI cũng cần tổ chức thêm nhiều khóa học giúp doanh nghiệp Việt Nam mở rộng kiến thức về quy định và Luật Thương mại quốc tế, tạo điều kiện cho các hiệp hội trong nước được thường xuyên giao lưu học hỏi kinh nghiệm của các nước trên thế giới.

VCCI cần phát huy vai trò trọng tài giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp của chính các doanh nghiệp, doanh nghiệp với Nhà nước, doanh nghiệp với người lao động…; tăng cường pháp chế và các hoạt động liên kết để tạo ra những cơ hội kinh doanh mới thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp trong cả nước. Ngoài những vấn đề liên quan đến xúc tiến thương mại, tổ chức các đoàn doanh nghiệp tham quan, tìm hiểu cơ hội kinh doanh, VCCI cần nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động, tạo những điều kiện tốt nhất để các doanh nghiệp có thể phát huy được những tiềm năng sẵn có của mình, vươn tầm ra thị trường quốc tế và khu vực.

Bà có thể chia sẻ những nhận định về triển vọng của kinh tế Việt Nam trong thời gian tới?

Mặc dù các dự báo kinh tế cho thấy năm 2012 sẽ tiếp tục là một năm đầy thử thách với nền kinh tế Việt Nam, song tôi tin rằng Chính phủ sẽ có những quyết định và chính sách đúng đắn nhằm giúp nền kinh tế Việt Nam phát triển một cách bền vững. Hiện tại, Chính phủ có kế hoạch triển khai việc ổn định kinh tế vĩ mô gắn liền với tái cấu trúc và cải cách toàn diện trong ít nhất 2 năm tới. Trong giai đoạn hiện nay, tái cấu trúc nền kinh tế là vấn đề thu hút được nhiều sự quan tâm bởi đây là yếu tố cần thiết và căn bản cho sự ổn định và bền vững của nền kinh tế.

Đặc biệt việc tái cấu trúc thị trường tài chính, trong đó ưu tiên hệ thống ngân hàng thương mại và phát triển các định chế tài chính, tín dụng phi ngân hàng sẽ thúc đẩy quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp, doanh nghiệp Nhà nước và thị trường xuất khẩu, thị trường nội địa. Vì vậy, với bối cảnh kinh tế bên ngoài cũng như cấu trúc bên trong của kinh tế Việt Nam hiện tại, tôi cho rằng kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng trên nền tảng lạm phát được kiềm chế, giúp nền kinh tế tiếp tục được cải thiện. Tuy nhiên, để đạt được điều này, cần phải đặc biệt quan tâm tới vấn đề nâng cao năng lực tài chính, cải thiện năng lực điều hành và khả năng quản trị rủi ro, nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

Thời gian qua, NHNN đã có những quyết định về việc giảm trần lãi suất huy động tín dụng, vậy theo bà những động thái trên có ảnh hưởng thế nào đến hệ thống ngân hàng và những tác động đối với nền kinh tế Việt Nam?

Năm vừa qua đã ghi nhận nhiều hành động mang tính cải tổ của Ngân hàng Nhà nước như triển khai các giải pháp phối hợp đồng bộ, quyết liệt thực hiện công cụ chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô về điều hành lãi suất, các chính sách thắt chặt tiền tệ, ổn định thị trường ngoại hối. Gần đây, Ngân hàng Nhà nước ban hành quyết định giảm trần lãi suất huy động vốn, tạo tiền đề cho việc giảm trần lãi suất cho vay. Điều này đã tác động tích cực đến tâm lý của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, tôi cho rằng việc giảm lãi suất này của Ngân hàng Nhà nước là một bước đi đúng đắn và phù hợp, giảm bớt khó khăn cho các doanh nghiệp. Về phía các tổ chức tín dụng, việc nới lỏng chính sách tiền tệ này cũng giúp họ mở ra nhiều cơ hội hợp tác với các doanh nghiệp trên phương diện cho vay vốn.

Theo tôi, lãi suất ngân hàng nên được giảm xuống theo một lộ trình có tính toán cụ thể để tránh những biến động đột ngột cho nền kinh tế và để góp phần cải thiện tính thanh khoản của các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục thực hiện các biện pháp kiểm soát mạnh mẽ để đảm bảo sự tuân thủ một cách nghiêm túc từ phía các các ngân hàng và tổ chức tài chính, tránh tình trạng mất công bằng trên thị trường thu hút tiền gửi khi một số ngân hàng vẫn thực hiện đàm phán lãi suất với khách hàng. Ngoài ra, Ngân hàng nhà nước cần ban hành các chính sách thích hợp để điều tiết thị trường liên ngân hàng, đưa thị trường này hoạt động trở lại theo đúng định hướng, khôi phục lại lòng tin của các tổ chức tín dụng và khai thông nguồn vốn trên thị trường này, từ đó đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển vốn trong hệ thống ngân hàng.

Mặc dù việc giảm lãi suất của Ngân hàng Nhà nước đã giúp cho thị trường tài chính ấm lên nhưng cũng không phải là không có các mặt hạn chế. Việc hạ lãi suất quá nhanh có thể tạo áp lực mới cho VND, làm giảm hiệu quả những nỗ lực ổn định kinh tế vĩ mô, ảnh hưởng đến niềm tin của nhà đầu tư và người tiêu dùng, làm suy yếu dự trữ ngoại tệ. Bên cạnh đó, việc liên tiếp hạ lãi suất và lại hạ một cách quá nhanh có thể sẽ tạo thêm áp lực lên lạm phát, giảm tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam.

Xin chúc mừng Bà và SeABank nhân dịp được NHNN xếp hạng nhóm 1 và tự hào được lựa chọn phục vụ các dự án ODA tại Việt Nam. Tuy nhiên, điều đó đồng nghĩa với việc SeABank sẽ phải nỗ lực cố gắng nhiều hơn nữa trên con đường chinh phục những đỉnh cao mới. Bà có thể chia sẻ những dự định, những kế hoạch nổi bật của SeABank trong thời gian tới?

SeABank có những bước phát triển mạnh toàn diện trong 5 năm vừa qua nhờ có sự chỉ đạo sát sao của Hội đồng Quản trị, sự giám sát chặt chẽ của Ban kiểm soát, sự điều hành linh hoạt của ban điều hành, sự ủng hộ và hợp tác chặt chẽ giữa SeABank và các đối tác, cổ đông chiến lược trong và ngoài nước, đặc biệt là cổ đông chiến lược nước ngoài Société Générale và các cổ đông chiến lược trong nước là Mobifone và PVGas cùng nỗ lực của hơn 2.200 cán bộ công nhân viên. SeABank là một trong số ít ngân hàng không vi phạm các chuẩn của NHNN, do vậy SeABank luôn luôn được NHNN đánh giá tốt và trong những năm qua liên tục được xếp loại A. Bên cạnh đó, SeABank có một hệ thống công nghệ thông tin, hệ thống Corebanking mạnh được đầu tư lớn ngay từ thời điểm ban đầu và được triển khai một cách hiệu quả. Nhờ đó, trong năm qua, SeABank được công nhận là một trong 5 ngân hàng hàng đầu về ứng dụng công nghệ thông tin tại Việt Nam, trong đó SeABank là ngân hàng TMCP duy nhất. Trên nền tảng vững chắc đó, SeABank vinh dự là một trong số ít những ngân hàng TMCP có tên trong danh sách các ngân hàng phục vụ dự án ODA tại Việt Nam và rất tự hào được NHNN xếp hạng Nhóm 1 – Nhóm các tổ chức tín dụng có hoạt động lành mạnh (loại A) và được cấp hạn mức tăng trưởng tín dụng 17% trong năm 2012.

Trong năm 2012, SeABank vẫn sẽ nghiêm túc tổ chức thực hiện các Nghị quyết của Chính phủ, Chỉ thị, Thông tư của Thống đốc NHNN về các giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ và thận trọng. SeABank sẽ tiến hành tái cơ cấu tổ chức và hoạt động phù hợp với chiến lược phát triển đưa SeABank trở thành ngân hàng bán lẻ tiêu biểu tại Việt Nam và là một trong số 15 ngân hàng thương mại mạnh của Việt Nam.


-