Việt Nam ba năm gia nhập WTO: Cơ hội và rủi ro toàn cầu

09:13:27 | 27/5/2010

Được và mất khi đặt lên bàn cân sau 3 năm Việt Nam gia nhập WTO, tăng trưởng kinh tế và thu hút mạnh mẽ nguồn đầu tư nước ngoài là những điểm sáng nổi bật. Nhưng đi cùng với đó là những rủi ro toàn cầu tác động mạnh mẽ và trực tiếp tới kinh tế Việt Nam.


Sau năm 2007, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,5%, hai năm tiếp theo, kinh tế Việt Nam bị ảnh hưởng từ suy thoái toàn cầu. Giá nguyên liệu tăng cao tạo sức ép lạm phát và tăng trưởng kinh tế thấp hơn. Do những tác động tiêu cực ảnh hưởng lớn hơn, truyền dẫn nhanh vào nền kinh tế nên tăng trưởng GDP đã chững lại chỉ đạt 6,2% năm 2008 và 5,3% năm 2009. Nhưng đây vẫn được xem là các con số ấn tượng so với mức tăng trưởng thấp hoặc âm của nhiều nước trên thế giới trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu.

Đối mặt với rủi ro mang tính toàn cầu

Việt Nam gia nhập WTO đúng thời điểm kinh tế thế giới đi vào giai đoạn khủng hoảng. Năm 2007, giá cả thị trường thế giới tăng cao, đặc biệt là giá dầu; tiếp theo là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

Tuy nhiên, việc gia nhập WTO đã có tác dụng tích cực đến tăng trưởng kinh tế nước ta, theo ông Lê Xuân Bá, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM). Nhờ hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hơn, rào cản thương mại tại các nước bạn hàng giảm, Việt Nam đã mở rộng thị phần sang các thị trường lớn như ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ và EU... tăng kim ngạch xuất khẩu, sản lượng các ngành xuất khẩu đều tăng.

Việc gia nhập WTO tác động mạnh mẽ đến xuất khẩu theo hướng tích cực, bởi hàng hóa tránh được các mức thuế cao. Cùng với đó là yêu cầu hội nhập vào nền kinh tế thế giới đã tạo ra sức ép buộc các cơ quan trung ương và địa phương phải giảm khoảng 30% các thủ tục hành chính. Khủng hoảng cũng có mặt tích cực vì tạo nên sức ép đẩy mạnh cải cách. Nền kinh tế Việt Nam dần nhận biết rõ hơn thể chế thị trường và nền kinh tế thế giới và từ đó tìm cách ứng phó cơ động linh hoạt. Kết quả là Việt Nam ứng phó thành công, qua đó nó bộc lộ rõ những cơ hội, thách thức của quá trình hội nhập.

Thách thức chính là kinh tế Việt Nam sẽ phải đối mặt với những rủi ro toàn cầu khi hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Ảnh hưởng lớn nhất đối với Việt Nam trước hết là về xuất khẩu, suy thoái kinh tế sẽ kéo theo nhu cầu tiêu thụ sụt giảm trên phạm vi toàn cầu. Tác động thứ hai là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Chi phí huy động vốn toàn cầu ngày càng tăng do biên độ tín dụng gia tăng. Huy động vốn gián tiếp vào thị trường cổ phiếu Việt Nam khó khăn, hay sự bán tháo cổ phiếu để thoát khỏi thị trường là có thể, mặc dù xác suất không cao do tính thanh khoản và quy mô của thị trường. Với lãi suất toàn cầu sụt giảm và chính sách tỷ giá VND vào USD của Việt Nam trong khi lãi suất VND vẫn ở mức cao, có thể dòng vốn này sẽ chảy vào trong một số giai đoạn nhất định nhằm khai thác cơ hội chênh lệch. Trong những trường hợp thoái vốn, dòng vốn này có thể tạo áp lực tỷ giá cho VND.

Mỗi năm lượng kiều hối với doanh số 8 - 10 tỷ USD/năm là nguồn thu quan trọng của Việt
Nam. Khi kinh tế thế giới bất ổn, nguồn kiều hối sụt giảm sẽ tác động đến cán cân thanh toán.

Đối phó với những tác động xấu từ các rủi ro mang tính toàn cầu, nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan nhận định trong một hội thảo mới đây: Dường như Việt Nam đang có sự lúng túng trong việc ứng phó với quá trình hội nhập trong bối cảnh khủng hoảng; chưa tận dụng hết cơ hội đã có... Ông cho rằng vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế là vấn đề quan trọng, cấp bách và lâu dài, nếu không làm tốt vấn đề này sẽ khó hội nhập thành công.

FDI: Từ số lượng sang chất lượng

10 năm qua, Việt Nam đã thu hút trên 124 tỷ USD vốn đăng ký cấp mới thuộc gần 8,5 nghìn dự án; vốn thực hiện đạt gần 48 tỷ USD; đầu tư từ khu vực FDI chiếm khoảng 25-30% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; tốc độ tăng trưởng xuất khẩu luôn trên 25%, có năm đến 56%; giải quyết cho 1,7 triệu lao động trực tiếp; nộp ngân sách đạt gần 2,5 tỷ USD năm 2009… vốn FDI được đánh giá là góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đóng góp vào ngân sách và các cân đối vĩ mô, thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính, tác động la tỏa đến các thành phần kinh tế khác…

Nhưng, các nhà quản lý nhận ra rằng, xét đến hiệu quả cuối cùng, thu ngân sách từ khu vực FDI chưa cao, nếu tính trong tương quan giải ngân và nộp ngân sách. Những ưu đãi lớn của Chính phủ lại không đi kèm với những cam kết được thực thi của nhà đầu tư. Năm 2009, một địa phương công bố, có đến 40% doanh nghiệp FDI trên địa bàn báo cáo lỗ. Điều này gây nên những hoài nghi về khả năng cạnh tranh của dự án FDI, cũng như tình trạng chuyển giá tạo lỗ giả của một số doanh nghiệp được dư luận phân tích gần đây.

Hơn thế, các dự án FDI đã chuyển hướng nhanh chóng, từ chỗ FDI chiếm 85% đổ vào công nghiệp và xây dựng, thì hiện tại chỉ còn chiếm 22%. Trong khi đó, vốn FDI vào lĩnh vực dịch vụ có xu hướng ngược chiều, tăng từ 7% lên 77%, trong cùng giai đoạn.

FDI đang đổ mạnh mẽ vào bất động sản. Có thể kể tới các dự án tầm cỡ gần đây như Dự án Công ty TNHH Skybridge Dragon Sea của Hoa Kỳ đầu tư 902,5 triệu USD xây dựng, kinh doanh Khu trung tâm hội nghị triển lãm, trung tâm thương mại, kinh doanh bất động sản tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Dự án Kho ngầm chứa xăng dầu tại Khu kinh tế Dung Quất với tổng vốn đầu tư là 340 triệu USD; Dự án Công ty TNHH đầu tư Daewon - Bình Khánh để kinh doanh bất động sản tại TP.HCM với tổng vốn đầu tư 120 triệu USD; Dự án Công ty TNHH CZ Slovakia Việt Nam của nhà đầu tư Slovakia để kinh doanh bất động sản với tổng vốn đầu tư 100 triệu USD. Dự án Công ty TNHH Promenada Canany của Thái Lan với mục tiêu xây dựng, quản lý, vận hành 1 tòa nhà trung tâm thương mại để cho thuê với tổng vốn đầu tư 95 triệu USD… Đầu tháng 4 vừa rồi, Công ty Emerging Markets Group (Hoa Kỳ) vừa đề xuất một dự án quy mô đầu tư dự kiến lên tới 3 tỷ USD tại Vân Đồn, Quảng Ninh cũng trong lĩnh vực bất động sản, lưu trú.

Nếu tính đến tính tích cực của dòng vốn FDI tốt đổ vào khu vực chế tác, thuộc công nghệ cao và đầu tư dài hạn - thì Việt Nam đang đi những bước thụt lùi. trên góc độ chuyển giao công nghệ, tạo sự lan tỏa…, vai trò của khối doanh nghiệp FDI gần đây không còn thể hiện được quá nhiều ý nghĩa.

Xu hướng trên của luồng vốn FDI khiến nhà quản lý đặt ra bài toán lựa chọn các nhà đầu tư và các dự án tốt, thay vì trải thảm đỏ đối với mọi dự án FDI. Kiến nghị về những chính sách trong thời gian tới, CIEM cho rằng, đối với FDI cần thực hiện ngay các giải pháp cơ bản, như thay đổi tư duy, có quan điểm mới về thu hút và sử dụng FDI; gắn chiến lược thu hút với giám sát quá trình thực thi, hoạt động; đề ra các chính sách phù hợp để loại bỏ các dự án không mong muốn và khuyến khích các dự án cần thiết, chú trọng đến chất lượng; cần tăng cường xúc tiến đầu tư đối với các tập đoàn đa quốc gia và có các chính sách riêng với các đối tác trọng điểm như các quốc gia thành viên EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản…

Minh Châu