Mở room sẽ tạo nhiều động lực kích thích phát triển kinh tế

09:18:30 | 26/7/2013

Khi đề cập tới độ mở của thị trường chứng khoán (TTCK) thì chủ yếu nói tới tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các công ty đại chúng so với thông lệ phổ biến trên thế giới. Việc mở room này tuy đã có nhiều ý kiến đề xuất nhưng hiện vẫn chưa thay đổi…

Rào cản thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Hiện nay, doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật với truờng hợp nhà đầu tư nước ngoài chiếm trên 51%/vốn điều lệ thì được coi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và khi đầu tư vào doanh nghiệp trong nước thì được coi là nhà đầu tư nước ngoài, khi đầu tư vào công ty đại chúng thì tỷ lệ góp vốn không quá 49%/vốn điều lệ, với lĩnh vực ngân hàng thì tỷ lệ đầu tư không quá 30%/vốn điều lệ.

Với thông lệ phổ biến trên thế giới thì nhà đầu tư nước ngoài thành lập DN theo pháp luật nước sở tại thì coi là nhà đầu tư trong nước, đương nhiên họ có nghĩa vụ và quyền lợi như doanh nghiệp trong nước, và họ được khuyến khích đầu tư với tỷ lệ cổ phần không hạn chế vào doanh nghiệp trong nước. Một số doanh nghiệp kinh doanh thuộc lĩnh vực hạn chế thì có thể hạn chế tỷ lệ cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài (hạn chế ở đây là về tỷ lệ cổ phần sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không được chiếm đa số và cách thức hạn chế là nhà nước nắm cổ phần chi phối tại 1 số doanh nghiệp đặc biệt).

Theo phân tích của Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính VN-VAFI, việc coi nhà đầu tư nước ngoài thành lập pháp nhân tại nước sở tại là nhà đầu tư trong nước theo thông lệ thế giới chính là vì các nước này muốn tăng cường khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài, nhất là trong lĩnh vực tài chính chứng khoán nhằm thành lập các công ty quản lý quỹ, ngân hàng đầu tư, quỹ đầu tư ở trong nước để thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển, để bơm vốn nhiều hơn cho nền kinh tế, đồng thời khuyến khích thu hút dòng vốn đầu tư dài hạn để làm cho thị trường vốn phát triển ổn định .

Trong khi đó, tại VN, nhiều nhà đầu tư nước ngoài (nhất là trong lĩnh vực tài chính, chứng khoán) đã từng phàn nàn rằng nếu doanh nghiệp của họ sinh ra tại VN mà coi đó là doanh nghiệp nước ngoài thì thật không hợp lý, vì họ phải chịu rất nhiều nghĩa vụ và thủ tục hành chính như doanh nghiệp trong nước nhưng quyền lợi lại không được như doanh nghiệp trong nước. Đây được coi là rào cản rất lớn trong việc thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài vào các doanh nghiệp VN.

Lợi hơn khi đầu tư vào DN tư nhân không đại chúng

Hiện nay, chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài của VN tương đối tốt và mở so với thông lệ thế giới, duy chỉ còn thủ tục hành chính là chưa được cải thiện nhiều. VN đã cho phép nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài ( 100% vốn nước ngoài ) đuợc đầu tư ở hầu hết các ngành và lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực kinh doanh có điều kiện như ngân hàng, bảo hiểm….Trong tình hình kinh tế gặp nhiều khó khăn như hiện nay thì khối doanh nghiệp FDI vẫn “sống khỏe”, không lao đao như khối doanh nghiệp trong nước và khối FDI đã thể hiện vai trò trụ cột của nền kinh tế. Đó là thành công của chính sách thu hút FDI trong nhiều năm nay.

Với các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam chưa niêm yết cũng có thuận lợi là không có rào cản nào trong việc hạn chế nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần tối đa hay mua cả doanh nghiệp. Đây cũng là 1 điểm sáng trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài và đã tạo điều kiện cho nhiều doanh nghiệp trong nước thực hiện chính sách tái cơ cấu, xử lý nợ xấu, thậm chí thoát khỏi tình cảnh giải thể phá sản của doanh nghiệp hay của cả tập đoàn; thu hút nhiều nhà đầu tư chiến lược mua cổ phần với giá cao hơn nhiều so với giá niêm yết trên TTCK .

Tuy nhiên, điều đáng nói chính là sự khác biệt về chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài đối với DN niêm yết và chưa niêm yết vì khối doanh nghiệp niêm yết đang gặp rào cản lớn trong việc gọi vốn thu hút các nhà đầu tư chiến lược.

Vì vậy, theo VAFI, nếu chính sách về room chậm thay đổi sẽ dẫn tới tình trạng các doanh nghiệp tư nhân kinh doanh hiệu quả không muốn tham gia niêm yết vì ít có lợi ích. Thậm chí, một số doanh nghiệp niêm yết (không phải DNNN cổ phần hóa) còn có kế hoạch hủy niêm yết. Điều này sẽ dẫn tới hệ quả là mục tiêu phát triển TTCK không đạt được theo thông lệ thế giới .

Phân tích của VAFI cho thấy, nếu nhìn nhận kinh nghiệm xử lý khủng hoảng tài chính Châu Á của các nước trong khu vực giai đoạn 1997 – 2001 thì chính việc ban hành qui định không hạn chế tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào doanh nghiệp trong nước của nhiều nước Châu Á gặp khủng hoảng là giải pháp quan trọng nhất để cộng đồng doanh nghiệp các nước nhanh chóng thoát ra khỏi khủng hoảng, chứ không phải là giải pháp cho ra đời và hoạt động của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam – VAMC.

VN đang cố gắng xử lý nợ xấu, nhưng tiến trình này khá chậm. Nhiều nhà quản lý đang kỳ vọng việc ra đời hoạt động của VAMC. Tuy nhiên, theo VAFI, vai trò của VAMC là hết sức hạn chế và cần phải có những giải pháp mạnh mẽ để nhanh chóng xử lý nợ xấu. “Việc mở room cho khối doanh nghiệp niêm yết và cho ngành ngân hàng sẽ tạo động lực cho rất nhiều nhà đầu tư trong nước và quốc tế (với hàng chục tỷ đô la được bơm vào TTCK) tham gia tích cực vào tiến trình xử lý nợ xấu và phục hồi nền kinh tế nước nhà”, VAFI khẳng định.

Việc không hạn chế tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, theo VAFI, sẽ mang lại rất nhiều lợi ích, trong đó có 3 lợi ích cơ bản: thay đổi phương thức quản trị doanh nghiệp, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp dễ dàng huy động được nguồn vốn cổ phần giá rẻ và tăng tính thanh khoản của cổ phiếu.

Bên cạnh đó, việc không có rào cản cho nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường vốn chẳng những kích thích dòng vốn FII mà còn kích thích mạnh mẽ dòng vốn đầu tư trong nước. Cơ cấu cổ đông sẽ thay đổi cơ bản theo hướng tỷ trọng cổ phần của nhà đầu tư tổ chức chiếm đa số, điều đó sẽ tạo thuận lợi trong công tác quản trị doanh nghiệp và huy động vốn.

Quỳnh Anh