Xếp hạng tín nhiệm: “Tấm hộ chiếu” để quốc tế hoá thương hiệu

12:05:57 | 25/7/2011

Một trong những nguyên tắc của WTO mà các quốc gia muốn gia nhập là phải công khai minh bạch thông tin. Một địa phương cần được đánh giá năng lực cạnh tranh để tăng cường thu hút đầu tư. Một doanh nghiệp muốn phát hành được cổ phiếu và niêm yết trên thị trường chứng khoán cũng phải công khai báo cáo tài chính… Tất cả những yêu cầu về minh bạch hoá thông tin như trên cho thấy lĩnh vực xếp hạng tín nhiệm (XHTN) đang trở thành nhu cầu không thể thiếu để phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế. Tạp chí Vietnam Business Forum đã có cuộc phỏng vấn với GS.TS. Nguyễn Khắc Minh - Chủ tịch Hội đồng Biên soạn "Báo cáo thường niên Chỉ số tín nhiệm Việt Namvề vấn đề này.

Xin ông cho biết mục đích của hoạt động xếp hạng tín nhiệm và đánh giá khái quát về lĩnh vực này ở Việt Nam trong thời gian qua ?

Ở các quốc gia phát triển trên thế giới, việc công bố các chỉ số tín nhiệm của quốc gia, tổ chức hay DN đã trở thành hoạt động thường xuyên. Hiện trên thế giới đã có nhiều tổ chức có uy tín trong việc công bố và xếp hạng tín nhiệm như: Standard & Poor's, Moody's hay Fitch,… Tại Việt Nam, VCCI đã công bố và xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) đối với 63 tỉnh, thành phố. Dưới sự bảo trợ của Văn phòng Chủ tịch nước, Công ty Cổ phần Xếp hạng Tín nhiệm Doanh nghiệp Việt Nam (CRV), Tạp chí Vietnam Business Forum phối hợp với một số tổ chức khoa học đã nghiên cứu và thực hiện Báo cáo thường niên Chỉ số tín nhiệm Việt Nam.

Trong nền kinh tế thị trường mang tính toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các quan hệ kinh tế cũng ngày càng phát triển, đi cùng với sự phát triển đó là sự gia tăng rủi ro. Mặt khác, trong xu thế vận động của nền kinh tế thị trường, các chủ thể luôn có nhu cầu đánh giá một cách khách quan về tình hình hoạt động, triển vọng phát triển trong tương lai, vị thế tín dụng để ra các quyết định đầu tư, mua bán và sáp nhập, tài trợ tín dụng, hợp tác hay cung ứng hàng hóa. Vì vậy, xếp hạng tín nhiệm là một yêu cầu không thể thiếu và luôn hiện hữu trong nền kinh tế thị trường và cũng là nội dung quan trọng nhất trong quản lý rủi ro.

Thời gian qua, nhiều tổ chức, doanh nghiệp đã nhận thấy tầm quan trọng của XHTN khi mất nhiều chi phí để có được các thông tin liên quan tới đối tác, không ít doanh nghiệp đã quen với việc công khai tình hình “sức khỏe” của mình. Điều này cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam đang ngày càng tiếp cận gần hơn với các phương pháp hoạt động theo tiêu chuẩn quốc tế.

Theo như ông nói, nếu đứng trên cương vị doanh nghiệp, xếp hạng tín nhiệm khiến họ “được” nhiều hơn là “mất”?

Các chỉ số đánh giá tín nhiệm cho thấy doanh nghiệp đó có nên hợp tác hay không và hợp tác ở mức độ nào. Doanh nghiệp được xếp hạng sẽ biết rõ tình trạng hoạt động kinh doanh thực tế của mình, triển vọng phát triển trong tương lai, cũng như những rủi ro có thể gặp phải. Hơn nữa, các chỉ số này cũng góp phần quan trọng để doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc lấy các quyết định cấp tín dụng, xác định hạn mức tín dụng, thời hạn, mức lãi suất, biện pháp bảo đảm tiền vay… của ngân hàng. Đối với các nhà đầu tư và thị trường chứng khoán là cung cấp những thông tin cần thiết cho người đầu tư về tình trạng của nhà phát hành, công cụ quản lý danh mục đầu tư…

Có được sự đánh giá và xếp hạng đạt tiêu chuẩn có nghĩa là doanh nghiệp có được “tấm hộ chiếu” để quốc tế hoá thương hiệu và cạnh tranh. Trên thực tế đã có một số doanh nghiệp trong ngành bảo hiểm, ngân hàng Việt Nam được các tổ chức xếp hạng tín nhiệm hàng đầu trên thế giới như A.M. Best, Fitch Ratings đánh giá. Với các kết quả này, các doanh nghiệp đó có thể “tự tin” khẳng định thương hiệu của mình cùng với các tập đoàn tài chính lớn trên thế giới.

Điểm mới của Báo cáo năm 2011 có gì khác so với năm ngoái, thưa ông?

Khác với các nghiên cứu khác về kinh tế Việt Nam năm 2010, Báo cáo năm 2011 sẽ có cơ sở ứng dụng cao chứ không nặng về học thuật. Nghiên cứu này tập trung vào một số nội dung như công bố các chỉ tiêu tài chính phản ánh tính dễ tổn thương của nền kinh tế trên cơ sở các các chỉ tiêu định lượng rút ra từ các mô hình được cải biên từ các mô hình được sử dụng để nghiên cứu các nền kinh tế khác như Thái Lan, Hàn Quốc...để phản ánh tính dễ tổn thương của nền kinh tế trong quá trình phát triển.

Bản báo cáo cũng phân tích một số ngành định hướng xuất khẩu ở cấp độ doanh nghiệp. Lần đầu tiên, báo cáo đánh giá 20 ngân hàng lớn tại Việt Nam thông qua bộ 4 chỉ số bao gồm Chỉ số tiến bộ công nghệ (CRVI), Chỉ số năng suất (pindex), Chỉ số quy mô (sindex) và Chỉ số định hướng thị trường (csindex).

Điểm đặc biệt trong báo cáo lần này là chúng tôi đưa ra được xác suất phá sản của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán. Đánh giá này sẽ rất hữu dụng trong bối cảnh thị trường chứng khoán đang ”dò đáy” như hiện nay.

Cách đây không lâu, một tổ chức đã xếp hạng các ngân hàng tại Việt Nam và ngay lập tức gặp phải sự phản hồi gay gắt của các ngân hàng thương mại, báo cáo Xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp lần này cũng có đề cập đến vấn đề xếp hạng các ngân hàng, vậy ông có lường trước được những phản ứng của các ngân hàng khi công bố báo cáo này?

Phải nói thêm rằng báo cáo của chúng tôi không chỉ phân tích xếp hạng 20 ngân hàng, mà còn có một số doanh nghiệp lớn của Việt Nam như Vinamilk chẳng hạn. Mục tiêu của việc phân tích đánh giá các ngân hàng và doanh nghiệp lớn lần này là xây dựng một bộ 4 chỉ số sao cho thông qua nó có thể đánh giá được các điểm yếu, mạnh của mỗi doanh nghiệp trong mối quan hệ với các doanh nghiệp cùng ngành và so với chính bản thân doanh nghiệp qua các năm trong môi trường kinh doanh ở Việt Nam về các chiến lược công nghệ, năng suất, quy mô, định hướng thị trường. Tôi cũng đã nghe nói trước đây có bản báo cáo xếp hạng bị kiến nghị về kết quả, tôi không đưa ra bình luận gì về vấn đề này. Điều quan trọng là xếp hạng doanh nghiệp không phải là xếp thứ tự doanh nghiệp hay liệt kê tên doanh nghiệp, nó phải có xác suất chính xác cao. Để xếp hạng tín nhiệm một DN niêm yết, chúng tôi sử dụng phương pháp tổng hợp để xếp hạng. Ví dụ khi đánh giá về tình hình tài chính, chúng tôi sử dụng 54 chỉ tiêu được tính toán từ báo cáo tài chính đã qua kiểm toán và dựa trên một số phương pháp được sử dụng phổ biến ở các nước phát triển. Chính vì vậy, bản báo cáo sẽ vừa bảo đảm được phương pháp nghiên cứu, vừa có tính ứng dụng cao.

Theo ông, lĩnh vực xếp hạng tín nhiệm cần có những điều kiện gì để phát triển mạnh mẽ hơn tại Việt Nam?

Tại các nước trên thế giới, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm có uy tín có thể xếp hạng tới tầm các quốc gia như xếp hạng mức độ thu hút đầu tư, rủi ro về nợ công tại Hy Lạp, Tây Ban Nha.. mà luôn được chấp nhận và đánh giá cao. Sở dĩ có được như vậy vì lĩnh vực đánh giá tín nhiệm trên thế giới có hệ thống pháp luật đảm bảo.

Ngay như ở Việt Nam, việc các doanh nghiệp niêm yết chậm công khai báo cáo tài chính kết quả kinh doanh xảy ra thường xuyên mà các doanh nghiệp đó không bị kỷ luật. Nếu việc công khai thông tin được luật hóa thì hệ thống thông tin doanh nghiệp sẽ được cập nhật và minh bạch hóa, hạn chế các thông tin cửa sau. Luật hóa các công bố thông tin xếp hạng tín nhiệm là một trong những yếu tố quan trọng của việc hạn chế thông tin sai lệch, nhập nhèm, những thông tin tô son” báo cáo tài chính của các doanh nghiệp làm ăn có vấn đề”.

Hương Ly