BẾN TRE

Bến Tre: Phát triển kinh tế năng động

16:06:16 | 24/6/2010

Nhằm tìm hiểu về thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong những năm qua cũng như định hướng hoạt động để thu hút các DN đầu tư, Phóng viên Vietnam Business Forum đã có cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Thái Xây - Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre.

Những năm gần đây, Bến Tre được biết đến là một trong những địa phương có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhất tại khu vực ĐBSCL. Những thành tựu nổi bật mà Bến Tre đã gặt hái được trong thời gian qua là gì, thưa ông?

Những năm gần đây, kinh tế Bến Tre tiếp tục tăng trưởng, bình quân đạt 9,97%/năm (2006-2008). Cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo hướng tích cực. Đến cuối năm 2008, tỷ trọng công nghiệp-xây dựng đạt 16,06%, dịch vụ đạt 31,72% và nông-lâm-thủy sản đạt 52,22%. Cơ cấu lao động cũng chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ. Đến cuối năm 2008, tỷ trọng lao động nông - lâm - thủy sản chiếm 76,6%; công nghiệp - xây dựng chiếm 8,64%, dịch vụ đạt 14,76%. Đời sống người dân được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người từ 8,173 triệu đồng (2006) tăng lên 12,569 triệu đồng (2008).

Nông nghiệp phát triển nhanh và khá toàn diện theo hướng chất lượng, hiệu quả; tập trung đầu tư thâm canh, định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng thị trường. Các mặt hàng nông sản tăng lên về số lượng và chất lượng với 367.000 tấn trái cây các loại, 311 triệu trái dừa, 519.000 tấn mía cây, 361.000 tấn lúa, đàn bò 170.500 con, đàn heo 280.000 con.

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tiếp tục phát triển, giá trị sản xuất tăng bình quân 17,2%/năm. Công nghiệp chế biến ngày càng chiếm tỷ trọng cao, một số nhà máy mới có quy mô lớn, công nghệ tiến tiến được đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng; Khu công nghiệp Giao Long, An Hiệp được tập trung vốn đầu tư, kết cấu hạ tầng chuyển biến tích cực.

Tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội từ năm 2006-2008 đạt 21.046 tỷ đồng, tăng 18,4%/năm. Nguồn vốn đầu tư ngân sách được quản lý, sử dụng tập trung cho các công trình trọng điểm. Hệ thống giao thông, thủy lợi, cấp nước sạch, trường lớp học, bệnh viện không ngừng được nâng cấp, mở rộng phục vụ tốt hơn cho nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân. Hệ thống điện, bưu chính- viễn thông, cấp nước tiếp tục được đầu tư mở rộng; tỷ lệ hộ sử dụng điện thoại đạt 56,6 máy/100 dân; tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt 93,07%, sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 80%.

Thương mại - dịch vụ tiếp tục phát triển, công tác đầu tư cải tạo, xây dựng mới trung tâm thương mại, siêu thị, chợ nông thôn được quan tâm thực hiện bằng nhiều nguồn vốn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu trao đổi hàng hóa, sinh hoạt của nhân dân. Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân đạt 24,6%/năm, cơ cấu hàng xuất khẩu qua chế biến chiếm tỷ trọng ngày càng cao. Hoạt động du lịch chuyển biến khá, xây dựng được nhiều điểm du lịch sinh thái miệt vườn kết hợp với tham quan sông nước, du lịch văn hoá; hoạt động lữ hành được mở rộng, khách đến tham quan ngày càng nhiều, chất lượng phục vụ được nâng cao. .

Các lĩnh vực khá như văn hóa, y tế, giáo dục và đào tạo nghề cũng đã đạt được những kết quả quan trọng.

Đâu là những động lực chính giúp Bến Tre có được những những chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, thưa ông?

Ngay từ đầu nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ lần thứ VIII, tỉnh đã chủ động, tập trung lãnh đạo, cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội; xác định những nhiệm vụ trọng tâm để dồn sức, quyết tâm tạo chuyển biến trên các lĩnh vực, cụ thể:

Trên lĩnh vực kinh tế: xác định nhiệm vụ trọng tâm là tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế. Trong đó, xác định công nghiệp là khâu đột phá, ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến nông - thủy sản, đồng thời phát triển mạnh một số ngành như may mặc, da giày, vật liệu xây dựng... phát triển các ngành dịch vụ theo hướng đa dạng hóa. Ngoài ra, tỉnh cũng nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư, mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế; phát triển du lịch nhất là du lịch sinh thái; phát triển nhanh và đa dạng hóa dịch vụ vận tải, bưu chính viễn thông…

Về văn hóa xã hội: Tỉnh ưu tiên cho việc nâng cao chất lượng GD - DT, tập trung xây dựng trường, lớp đạt chuẩn; tập trung đầu tư cho công tác dạy nghề nhằm giải quyết việc làm cho người lao động; thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, tạo điều kiện khuyến khích người nghèo vươn lên thoát nghèo đồng thời khuyến khích người dân làm giàu chính đáng.

Đầu năm 2009, Bến Tre khánh thành cầu Rạch Miễu. Theo ông, điều này có ý nghĩa và tác động thế nào với phát triển kinh tế - xã hội và thu hút đầu tư vào Bến Tre trong những năm tới?

Cầu Rạch Miễu là một kỳ vọng lớn của Đảng bộ và nhân dân Bến Tre, đã và đang tác động tích cực đến việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Năm 2008, Bến Tre thu hút được khoảng 71 triệu USD, phấn đấu năm 2009 sẽ đạt từ 80-100 triệu USD vốn FDI.

Thực tế năm 2008 và dự báo năm 2009 có nhiều dự án đầu tư trong và ngoài nước vào tỉnh thuộc các lĩnh vực đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, khu đô thị nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, những dự án chế tạo thiết bị công nghiệp có giá trị cao.

Tuy nhiên, cầu Rạch Miễu hoàn thành mới chỉ là điều kiện cần để các nhà đầu tư đến và hoạt động lâu dài tại tỉnh. Vì vậy, Bến Tre sẽ tập trung hoàn thiện các vấn đề như: Chú trọng thực hiện công tác quy hoạch các khu công nghiệp, xác định rõ quy mô và vị trí xây dựng các khu công nghiệp của tỉnh đến năm 2020 cho phù hợp, thuận lợi đối với nhà đầu tư, đồng thời không gây xáo trộn lớn về dân cư. Ngoài ra, tỉnh tập trung đào tạo lực lượng lao động có trình độ chuyên môn, tay nghề cao. Đặc biệt, tỉnh cũng quan tâm hoàn thiện thủ tục hành chính để thu hút nguồn đầu tư mới.

Đứng trước khủng hoảng kinh tế, để đảm bảo phát triển kinh tế và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, Tỉnh Bến Tre sẽ có những biện pháp và hoạt động mang tính hỗ trợ gì, thưa ông?

Thực hiện Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch thực hiện đồng bộ trên địa bàn, chủ yếu tập trung vào những vấn đề trọng tâm sau:

- Tiếp tục triển khai thực hiện tốt Quyết định số 06/2008/QĐ-UBND ngày 13/3/2008 của UBND tỉnh về ban hành chính sách ưu đãi đầu tư nhằm thu hút đầu tư trong, ngoài tỉnh và đầu tư nước ngoài. Năm 2009, tỉnh sẽ rà soát, chấn chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế.

- Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, thực hiện tốt mô hình “một cửa liên thông”, mã số thuế, khắc dấu… ; Thực hiện các hoạt động hỗ trợ, nâng cao năng lực của doanh nghiệp như tư vấn, đào tạo kỹ năng quản lý, cung cấp thông tin.

- Đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư, chú trọng thu hút các nhà đầu tư có tiềm lực tài chính và công nghệ cao.

- Tiến hành kiểm tra, giải quyết những khó khăn, vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình, dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước; cho phép các chủ đầu tư được tiếp tục giải ngân vốn đến tháng 6/2009. Ngoài ra, khẩn trương hoàn tất thủ tục, hồ sơ để sớm khởi công các công trình, dự án mới.

- Hệ thống ngân hàng phải đẩy mạnh công tác huy động vốn; áp dụng mức lãi suất hợp lý; thực hiện tốt chính sách tín dụng; sớm triển khai việc hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa theo chủ trương kích cầu của Chính phủ.

- Triển khai thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Trung ương về giảm thuế, giãn thời hạn nộp thuế, giãn nợ… nhằm góp phần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Xin cảm ơn ông!

Quốc Hưng