BẮC KẠN

Hiệu quả từ chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

9:49:16 AM | 22/8/2019

Từ năm 2011 đến nay, việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Bằng việc huy động, lồng ghép nhiều nguồn vốn khác như: Chương trình 134,Chương trình135, vốn vay tín dụng kênh Ngân hàng Chính sách Xã hội và người dân tự đầu tư… ngày càng nhiều các công trình vệ sinh và cấp nước sinh hoạt được đầu tư xây dựng.

Cải thiện đời sống người dân

Ông Bế Văn Hùng - Giám đốc Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn cho biết: Từ năm 2011 đến 2015, bằng các nguồn vốn thực hiện chương trình 134, 135, Hội chữ thập đỏ, nhân dân đóng góp...đã thực hiện đầu tư xây dựng được hơn 93 công trình cấp nước tập trung nông thôn, góp phần tăng tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh lên 95%, tỷ lệ hộ gia đình ở nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh lên 65%. Những công trình này đã mang lại hiệu quả rõ rệt, giúp nâng cao sức khỏe của cộng đồng, cải thiện đời sống cho nhân dân vùng sâu, vùng xa.


Ông Bế Văn Hùng - Giám đốc Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn
tỉnh Bắc Kạn

Thực hiện Chiến lược quốc gia về cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn, giai đoạn từ nay đến 2020, tỉnh Bắc Kạn phấn đấu có 98% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; nâng tỷ lệ người dân được sử dụng nước đạt quy chuẩn quốc gia lên 45%; tỷ lệ hộ gia đình ở nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh đạt 75%... Được biết thời gian tới, tỉnh Bắc Kạn sẽ được bố trí vốn theo Chương trình “Mở rộng quy mô vệ sinh và nước sạch nông thôn dựa trên kết quả” (do Ngân hàng Thế giới tài trợ). Nếu được cấp đủ vốn, phần đầu tư cho nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn dự kiến sẽ là 6,5 triệu USD. Chương trình này sẽ tập trung chủ yếu vào việc sửa chữa, cải tạo các công trình hiện có và xây mới các công trình, mục tiêu phục vụ nước sạch sinh hoạt cho 10.500 hộ dân nông thôn. Với việc lồng ghép các nguồn vốn khác và từ Chương trình xây dựng nông thôn mới, tin rằng các mục tiêu về nước sạch và môi trường nông thôn trong thời gian tới sẽ có nhiều chuyển biến tích cực.

Chú trọng tập huấn năng lực, vận hành và bảo dưỡng công trình

Hàng năm từ nguồn kinh phí sự nghiệp Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã xây dựng kế hoạch tập huấn quản lý, vận hành, kiểm tra, đánh giá chất lượng nước cho cộng đồng dân cư hưởng lợi từ công trình cấp nước sinh hoạt. Các công trình cấp nước tập trung trước khi bàn giao đưa vào sử dụng sẽ được tập huấn quản lý, vận hành và bảo dưỡng công trình cho tổ quản lý vận hành. Hiệu quả quản lý, vận hành cơ bản được nâng cao, tỷ lệ các công trình cấp nước nông thôn hoạt động bình thường chiếm 88,32%.

Tuy nhiên trong quá trình thực hiện cũng gặp không ít khó khăn, vướng mắc. Ý thức của một số người hưởng lợi kém, chưa tham gia quản lý theo cộng đồng, đóng góp phí quản lý chưa đầy đủ nên hàng năm không đủ kinh phí để duy tu, bảo dưỡng. Các công trình cấp nước tập trung có đầu mối ở xa khu dân cư, hệ thống đường ống dài khó khăn trong quản lý duy tu. Công tác quản lý sau đầu tư còn hạn chế, chính quyền địa phương chưa có biện pháp kiên quyết trong quản lý, chưa đưa công tác quản lý thành nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của địa phương và tổ quản lý vận hành khai thác công trình chưa nâng cao vai trò trách nhiệm nên một số công trình bị xuống cấp nhanh, chưa phát huy hết công suất thiết kế.

Để khắc phục tình trạng trên, tỉnh Bắc Kạn cần đẩy mạnh công tác thông tin, giáo dục, truyền thông tại cấp thôn, bản và đào tạo đội ngũ tuyên truyền viên tại chính thôn bản. Tăng cường công tác tuyên truyền đến mọi người dân về ý nghĩa của việc sử dụng nước sạch đối với sức khỏe của nhân dân. Tập trung phát triển nguồn nhân lực, chú trọng công tác quản lý các công trình sau đầu tư, đặc biệt quan tâm đến mô hình và cơ chế quản lý các công trình cấp nước tập trung. Các công trình sau khi xây dựng xong phải xây dựng quy trình vận hành, trong đó có quy định rõ thời gian, trình tự và các nội dung bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa và thay thế thiết bị trong hệ thống công trình.